PHOTO CLUB HOUSTON

Photography

 

view:  full / summary

Holding the camera

Posted on March 17, 2012 at 9:10 AM

Cách cầm máy ảnh để chụp ảnh không bị rung

Không phải lúc nào bạn cũng tiện cầm tripod đi theo mình khi chụp ảnh bởi tripod khá nặng và bất tiện. Trong khi đó, việc chụp các bức ảnh với thời gian mở cửa trập lâu (>=1s) sẽ rất dễ làm ảnh bị rung do tay cầm không chắc. Dưới đây là các lời khuyên về việc cầm máy ảnh đúng (và sai) mà bạn có thể tham khảo để áp dụng cho các bức ảnh đẹp hơn :

1.Hãy sắm cho mình dây đeo máy ảnh. Dây đeo sẽ giúp bạn không phải cầm máy ảnh nhiều khi đi du lịch và giúp tay bạn đỡ mỏi hơn trước khi chụp ảnh.

Highslide JS

2.Khuỷnh tay cần phải dựa vào một vật cố định – ít nhất là phải dựa vào cơ thể của bạn để có điểm tựa chắc chắn hơn là việc mở rộng khuỷnh tay một cách tự nhiên.

Highslide JS

3.Một tay cầm vào thân (body) máy ảnh, một tay giữ ống kính sẽ tốt hơn là bạn cầm cả hai tay vào thân máy ảnh.

Highslide JS

4.Đừng bao giờ cầm máy ảnh bằng một tay bởi vì dù tay bạn chắc tới đâu, lúc bạn ấn nút chụp sẽ là lúc bức ảnh bị rung thậm tệ. Hãy sử dụng tay còn lại làm giá đỡ (đây là tư thế ưa thích của người viết khi phải chụp các bức ảnh thiếu sáng).

Highslide JS

5.Chân trụ luôn phải vững cho dù bạn chụp đứng hay chụp ngồi. Do vậy đừng khép chân mà hãy để chân rộng (ít nhất) bằng vai, so le nhau để tạo ra thế đứng vững chắc nhất cho bản thân mình.

Highslide JS

Cuối cùng, một kinh nghiệm của bản thân người viết là hãy nín thở khi bấm cò! Cho dù khung cảnh có đẹp, có xúc động, có nghẹt thở tới đâu mà chỉ cần tim bạn đập quá mạnh là cũng có thể làm bức ảnh bị rung rồi.

Flash technique using basic.

Posted on March 17, 2012 at 8:45 AM

Ánh sáng mặt trời là nguồn sáng đẹp nhất trong tất cả các nguồn sáng nhưng không phải mọi lúc, mọi nơi nguồn sáng này luôn sẵn sàng đáp ứng nhu cầu của nhà nhiếp ảnh.

Khi đó, nhà nhiếp ảnh sẽ dùng thêm một nguồn sáng nhân tạo là đèn flash. Bạn luôn nhớ một điều rằng: "chất lượng của nguồn sáng quyết định chất lượng hình ảnh". Nếu bạn cho rằng sử dụng đèn flash rất khó, thì có lẽ bạn chưa nắm bắt được những kỹ thuật trong đánh đèn flash. Dưới đây là một số vấn đề căn bản trong đánh đèn flash.

Đánh đèn flash với tản sáng (Diffuser)

Tản sáng là dụng cụ làm cho ánh sáng khuếch tán và mềm mại. Khi đánh bằng đèn flash mà không dùng tản sáng ánh sáng sẽ gắt, và tạo nhiều vùng bóng đổ đậm rất mất thẩm mỹ. Ngoài ra, trong thể loại ảnh chân dung chụp với flash, ánh sáng khuếch tán còn khiến da mặt trở nên láng mịn, xoá bỏ những khiếm khuyết trên khuôn mặt. Tản sáng có thể làm bằng vải, giấy hoặc nhựa trong suốt mà ánh sáng đèn có thể đi qua và tản ra.

Highslide JS

Hình bên trái dùng tản sáng, vùng bóng đổ dưới cằm êm dịu. Hình bên phải đánh trực tiếp, bóng đổ dưới cằm gắt, đậm và mất chi tiết.

Đánh đèn flash với hắt sáng:

Hắt sáng (phản quang) là các dụng cụ phản chiếu ánh sáng được dùng như một nguồn sáng thứ cấp dùng để phủ sáng vào các vùng tối trên chủ thể phụ hoạ với nguồn sáng chính là đèn flash. Thông thường hắt sáng có hai màu là màu bạc và màu vàng. Hắt sáng màu bạc cho tone ánh sáng trắng lạnh và màu vàng cho tone vàng ấm. Nếu bạn không có hắt sáng bạn có thể dùng giấy bạc, tấm xốp, giấy tint foild, các loại mica phản quang…

Highslide JS

Đặt đèn bên trái khuôn mặt. Hình bên trái dùng hắt sáng đặt hắt sáng bên phải, gò má phải đủ sáng. Hình bên phải không dùng hắt sáng, gò má phải bị tối gắt.

Đánh đèn gián tiếp:

Một trong những cách làm ánh sáng đèn flash dịu đi và lan toả là đánh flash không trực tiếp vào chủ thể mà đánh phản chiếu từ các bề mặt hắt được ánh sáng như trần, tường nhà hoặc tấm hắt sáng... Nghiên cứu kỹ bố cục và quyết định hướng tới của ánh sáng phản chiếu là vấn đề cốt lõi trong cách đánh đèn gián tiếp (lưu ý bóng đổ sẽ không hiện diện trước khi đèn flash nháy mà nó chỉ hiện diện trên kết quả, đòi hỏi người chụp phải lưu ý lựa chọn hướng nguồn sáng phù hợp để chủ thể không nằm trong vùng bóng đổ;)

Highslide JS

Hình bên trái, đánh flash gián tiếp từ trần ánh sáng mềm dịu tự nhiên. Hình bên phải, đánh trực tiếp, ánh sáng gắt và gương mặt không rõ khối.

Đồng bộ đèn tốc độ cao (Auto FP Hight-Speed Sync):

Tốc độ của màn trập là 1 trong 3 đại lượng quyết định lượng EV. Với tốc độ màn trập đóng nhanh bạn có thể ghi nhận được các vật chuyển động nhanh, nhưng do thời lượng phơi sáng ít do đó ảnh sẽ rất tối. Với việc đánh flash “đồng bộ tốc độ cao – auto hight-speed sync” bạn có thể gán tốc độ ăn đèn đồng bộ với tốc độ màn trập đóng nhanh, thời lượng cho phép lên đến 1/4000s (tuỳ theo DSLR và flash). Ngoài ra, đánh flash "đồng bộ tốc độ cao" cho phép bạn cân bằng được EV giữa hậu cảnh và chủ thể, hoặc nó cũng cho phép bạn mở khẩu lớn mà không lo đến việc bù trừ với tốc độ đóng màn trập nhanh bị giới hạn bởi khả năng đánh flash thông thường.

Highslide JS

Chụp với tốc độ cao để ghi nhận những giọt nước. Hình bên trái dùng flash, chủ thể đủ sáng. Hình bên phải, không đánh flash chủ thể thiếu sáng.

Đồng bộ tốc độ thấp (Slow-Sync):

Độ phủ của flash không là vô tận, nó được giới hạn bởi GN (guide number - chỉ số công suất đèn). Với việc đánh flash thông thường, ảnh sẽ bị nông cạn và thiếu chiều sâu do độ phủ của đèn flash giảm dần vì thế vùng hậu cảnh có thể nằm ngoài vùng phủ sáng. Chế độ Slow-Sync cho phép đánh đèn trong lúc chụp với tốc độ chậm. Với chế độ này, bạn có hai hiệu quả ánh sáng cùng một lúc, đèn flash sẽ “tạm thời” bắt chủ thể đứng im để ảnh của chủ thể sắc nét, và tốc độ đóng màn trập chậm làm cho thời lượng ánh sáng qua ống kính đủ để ảnh của vùng hậu cảnh đúng sáng. Nên dùng tripod để chụp và sử dụng chế độ đo sáng ma trận trong chế độ Slow-Sync.

Highslide JS

Hình bên trái, sử dụng Slow-Sync, cả chủ thể và background đúng sáng, ảnh có chiều sâu. Hình bên trái, dùng normal sync, ảnh chủ thể đúng sáng nhưng vùng background thiếu sáng, mất chiều sâu.

Dùng Gel màu để bù trừ màu:

Bạn có thể dùng gel màu là các miếng plastic màu trong suốt, để bù trừ những màu bị ám trong khung cảnh. Hoặc cũng có thể dùng các gel màu để tăng tính thẩm mỹ và sáng tạo cho bức ảnh.

Highslide JS

Hình bên trái, dùng flash và gắn gel màu đỏ + ống kính gắn kính lọc màu xanh cho ảnh có tone màu ấn tượng. Hình bên phải, đánh flash và không dùng thêm gì cả, ảnh bình thường.

Chụp bằng nhiều đèn flash:

Bạn có thể dùng nhiều flash với nhiều công suất khác nhau để đánh sáng theo đúng chủ ý của bạn. Không có nguyên tắc giới hạn số lượng flash bạn cần dùng cho khung hình, đặc biệt là trong thể loại chụp ảnh với các vật phản quang như bề mặt kim loại, thuỷ tinh, đồ trang sức… Một nguồn sáng mạnh có thể làm toàn bộ khung ảnh sáng nhưng sẽ có những điểm phản quang bị sáng loé, trong lúc này nên bố trí nhiều nguồn sáng để cân bằng sáng cho toàn bộ khung ảnh và không có điểm nào sáng loé. Nếu đang sử dụng máy ảnh Nikon, bạn nên nhớ rằng có rất nhiều máy Nikon DSLR hỗ trợ CLS là đánh sáng nhiều đèn một lúc và không cần thêm các thiết bị hỗ trợ bên ngoài để truyền tín hiệu.

Highslide JS

Hình bên trái, dùng một đèn chủ gắn trên máy và hai đèn đơn vị, ảnh thể hiện được rõ chất liệu. Hình bên phải, dùng một flash chất lượng ảnh nghèo nàn.

Phan-Hồ

(Theo Nikon School for beginers)

How cameras work: A brief introduction

Posted on February 14, 2012 at 8:35 AM

How cameras work : A brief introduction

Các máy ảnh truyền thống sử dụng phim để ghi lại hình ảnh có cấu tạo cơ bản giống nhau, gồm các bộ phận:

1 – Ống kính (lens)

2 – Gương phản xạ và và hệ thống gương phức hợp ngắm chụp (relex mirror and prism)

3 – Ống ngắm (view finder)

4 – Cửa chập có mành chập (shutter/ shutter curtains)

5 – Bản phim (film/ film plane)

1. Ống kính:

Ống kính được cấu tạo bởi nhiều thấu kính (lens). Trên ống kính có hệ thống căn nét để điều chỉnh hình ảnh phản chiếu lên bản phim sao cho rõ nét nhất (focusing). Trong ống kính còn có một lỗ cho ánh sáng lọt qua (apature) được cấu tạo để có thể điều chỉnh mở to hoặc nhỏ điều tiết ánh sáng nhiều hay ít đi qua. Các ống phóng (zoom) còn có hệ thống mở to hay thu nhỏ góc ảnh bằng cách điều chỉnh tiêu cự của ống (focal length).

2. Gương phản xạ và hệ thống gương phức hợp ngắm chụp

Do người chụp không thể ngắm chụp trực tiếp theo một đường thẳng xuyên qua ống kính vì vướng bản phim, để người chụp có thể nhìn thấy hình ảnh và góc chụp trước khi bấm máy, người ta phải bố trí một gương phản xạ (relex mirror) ở sau ống kính (thường theo góc 45 độ. Hình ảnh hắt vào gương này sẽ được phản xạ lên hệ thống gương phức hợp (prism), thường đặt phía trên nóc máy, để từ đó đi tới ống ngắm (view finder) đặt phía trên bản phim và nhìn xuyên ra phía sau thân máy. Khi bấm chụp, gương này sẽ phải lật lên để hình ánh đi theo đường thẳng qua cửa chập tới bản phim. Sau khi chụp, gương sẽ hạ xuống vị trí ban đầu để người chụp ngắm chụp các kiểu ảnh tiếp theo.

3. Ống ngắm

Như đã nói ở trên, ống ngắm (view finder) được thiết kế giúp người chụp nhìn được hình ảnh trước khi bấm chụp. Để ngắm chụp chính xác nhất thì hình ảnh ngắm qua ống ngắm phải giống hoàn toàn với hình ảnh sẽ được ghi lên bản phim. Vì vậy phải bố trí hệ thống gương như nói ở trên để người chụp ngắm được qua ống kính chính – và vì vậy loại máy ảnh này được gọi là máy ảnh ống kính đơn phản xạ (single lens relex / SLR) vì chỉ có một ống kính phục vụ mục đính ngắm chụp đồng thời thu nhận hình ảnh chụp lên bản phim. Ở một số thiết kế khác, máy ảnh được bố trí hai ống kính khác nhau, một ống thu hình ảnh lên bản phim và một ống phụ dùng cho ống ngắm chụp – và vì vậy ở các máy này không cần gương phản xạ nên cấu tạo thường mỏng và nhỏ gọn hơn; ở các máy này, do vị trí của ống ngắm và ống chụp chính hơi lệch nhau nên có thể tạo ra hiện tượng thị sai (parallax) và những gì nhìn thấy qua ống ngắm không hoàn toàn giống với hình ảnh thể hiện trên bản phim vì góc nhìn hơi lệch nhau.

4. Cửa trập và mành trập

Của chập (shutter) là một bộ phận gồm một hay nhiều mành chập (shutter curtains) gắn trước bản phim, sau gương (và sau ống kính) có nhiệm vụ ngăn ánh sáng không cho đi tới bản phim lúc chưa bấm chụp và mở ra (rồi đóng vào rất nhanh) khi chụp. Cửa chập đóng mở nhanh hay chậm (shutter speed) còn có mục đính quan trọng là điều tiết ánh sáng đi tới bản phim; tốc độ này kết hợp với khẩu độ mở của ống kính (apature) để tạo ra giá trị phơi sáng của hình ảnh (exposure value), tức là độ sáng tối của hình ảnh ghi lại trên phim. Do tốc độ đòi hỏi cửa chập phải đóng mở trong những khoảng thời gian rất ngắn (thường tính bằng một phần của giây đồng hồ nên để đạt được tốc độ cơ học rất nhanh, thường phải bố trí hai hay nhiều mành chập (shutter curtains) vì nếu chỉ có một mành mở lên rồi đóng xuống thì về mặt cơ học, không thể đạt được những tốc độ rất cao như mong muốn. Quả thật là điều kỳ diệu của công nghệ cơ học khi ta thấy cửa chập của các máy ảnh ngày nay có thể đạt tới tốc tộ mở – rồi đóng – lên tới 1/8000 giây.

5. Bản phim

Bản phim – hay gọi ngắn gọn là phim – được bố trí sau cùng trong máy ảnh tính theo hướng đi của ánh sáng phản xạ từ hình ảnh được chụp: hình ảnh > ống kính > gương phản xạ > (gương lật lên) > cửa chập > (cửa chập mở ra) > phim. Phim nhựa được chế tạo bằng cách phủ lên tấm nhựa trong suốt một loại hóa chất – thường có chứa bạc kim loại (silver halide) – có khả năng phản ứng hóa học khi gặp ánh sáng để ghi nhận hình ảnh qua ánh sáng phản xạ từ vật thể được chụp lên phim. Đặc tính của các hạt hóa chất này (particles) là độ mịn càng cao thì khả năng bắt sáng càng thấp, từ đó có khái niệm ISO, do Tổ chức tiêu chuẩn quốc tế qui định (International Organization for Standardization / ISO). Chỉ số ISO qui định độ nhạy (bắt sáng) của phim. Phim càng có ISO cao càng có khả năng bắt sáng cao giúp chụp được hình ảnh trong điều kiện ít ánh sáng – và vì thế khi dùng phim ISO cao, có thể tăng tốc độ chụp lên cao, giúp dừng hình (freeze motions) của những hình ảnh chuyển động nhanh – ví dụ trong thể thao. Điều cần lưu ý là để chế tạo phim khả năng bắt sáng cao phải sử dụng các hóa chất có độ mịn thấp (các hạt hóa chất to hơn) nên khi phóng to hình ảnh sẽ bị nhiễu (noise) tức là hình ảnh bị sần với các chấm điểm ánh sáng không đồng đều màu sắc do ảnh hưởng của độ mịn các hạt hóa chất sử dụng làm phim. Đối với phim màu, thay vì phủ một lớp hóa chất, người ta phải phủ chồng lên nhau ba lớp hóa chất có khả năng phản ứng (hóa học) với ba màu ánh sáng khác nhau (3 màu cơ bản) để từ đó tạo mọi màu sắc cho hình ảnh ghi nhận trên phim.

Ngày nay, với công nghệ kỹ thuật số (KTS) người ta thay bản phim bằng một lá cảm biến (sensor) có khả năng phản ứng với ánh sáng như phim, nhưng hình ảnh được số hóa và lưu vào trong bộ nhớ của máy ảnh (memory) hoặc thẻ nhớ (memory stick). Các khái niệm như đối với bản phim nay được áp dụng y nguyên cho cảm biến số, vì vậy trên máy KTS cũng có các giá trị ISO (độ nhạy) và nhiễu màu (noise) như ở phim nhựa truyền thống. Tất cả cơ chế khác hầu hết đều tương tự như máy ảnh ống kính đơn phản xạ (SLR) nên những máy ảnh KTS này được gọi là máy ảnh KTS ống kính đơn phản xạ (D-SLR/ DSLR/ dSLR)

NHỮNG KHÁC BIỆT GIỮA SLR TRUYỀN THỐNG VÀ SLR KTS (DSLR)

Đo sáng, đo khoảng cách căn nét điện tử tự động

Để thực hiện mục đích đo sáng và căn nét điện tử, ngay từ các đời máy bán số hóa trước khi thế hệ máy gắn cảm biến thay bản phim ra đời, đã có những thay đổi để phù hợp với yêu cầu mới. Có nhiều thiết kế khác nhau để thực hiện các chức năng điện tử này. Một trong những thiết kế phổ biến là việc chế tạo các gương phản chiếu đặc biệt. Ở gương này, một khu vực nhỏ ở giữa gương được gắn một cơ chế “chia sáng” (beam spliter) với đăc tính bán trong suốt. Hình ảnh phản chiếu tới gương sẽ được “chia đôi”, một nửa được phản xạ tới hệ thống gương ống ngắm và một nửa xuyên qua lớp bán trong suốt để đi tới một gương phụ. Từ gương phụ này hình ảnh được phản chiếu tới một cảm biến có chức năng đo sáng và đo khoảng cách cho căn nét (thường gắn ở đáy thân máy). Ngoài ra, còn có thiết kế trong đó cảm biến thứ hai này có thể được gắn ngay trong hệ thống gương phức hợp mà không cần sử dụng cơ chế chia sáng và gương phụ.

Cảm biến (sensor) và khái niệm ngắm sống (live view)

Ở máy ảnh KTS, với việc thay bản phim bằng cảm biến ghi nhận hình ảnh, đã tạo ra những khái niệm mới đầy thú vị. Một trong những khái niệm này là ngắm chụp qua màn LCD gắn ở sau thân máy.

Việc kết nối qua hệ thống điện tử giữa cảm biến và màn LCD cho phép ngắm chụp/ lấy khuôn hình ngay trên màn LCD mà không phải nhòm nhòm qua ống ngắm như trước.

Máy ảnh du lịch (Point and Shoot / P&S) và ngắm sống: Ở các loại máy ảnh du lịch nhỏ gọn, người ta không cần gắn gương phản chiếu lên ống ngắm và thậm chí, đa số máy ảnh loại này không có cửa chập vật lý mà chỉ còn lại khái niệm về cửa chập và tốc độ cửa chập. Không giống với phim nếu nhận nhiều ánh sáng sẽ bị “cháy”, cảm biến ở máy ảnh KTS, trong khi ở trạng thái bật, có khả năng luôn nhận ánh sáng/ hình ảnh đi qua ống kính và truyền hình ảnh này tới màn LCD. Trong quá trình ngắm chụp máy chưa ghi và lưu lại hình ảnh vào bộ nhớ/ thẻ nhớ mà chỉ hiển thị trên màn LCD. Khi bấm chụp, máy mới ghi lại hình ảnh ở thời điểm bấm chụp. Ngay cả tiếng “xoạch” cơ học của cửa chập nay cũng chỉ còn là âm thanh số hóa được phát ra từ một loa bé xíu gắn trên máy. Tuy nhiên, cơ chế này có rất nhiều nhược điểm: a) Do hệ thống điện tử phải xử lý phức tạp trong quá trình truyền hình ảnh từ cảm biến ra LCD nên tạo ra hiện tượng “trễ ảnh” (lag) khi bấm chụp vì hình ảnh hiện trên LCD đã bị chậm hơn so với những gì diễn ra ngoài thực tế, nhất là khi chụp các vật chuyển động; b) Cảm biến do luôn ở chế độ hoạt động nên bị nóng, làm tăng độ nhiễu màu trên ảnh (khả năng triệt tiêu độ nhiễu này cũng là một thách thức với các hãng sản xuất và là một trong những điểm cạnh tranh giữa các hãng, đồng thời cũng là một thông số cần lưu ý khi chọn mua máy ảnh số; c) Trong điều kiện ánh sáng mạnh như chụp ngoài trời, độ sáng của hầu hết các màn LCD đều không đủ để giúp người chụp nhìn rõ, màn hình thường bị tối đen không nhìn thấy gì; d) Hơn nữa, màn LCD với kích thước nhỏ không thể hiển thị được hình ảnh chi tiết của đối tượng muốn chụp nên rất bất tiện khi ngắm chụp.

Máy ảnh KTS DSLR và ngắm sống:

Do cấu tạo có gương chắn trước cửa chập (và cảm biến) ở máy DSLR, loại máy này thường không cho chức năng ngắm sống trên màn LCD vì khi chưa bấm chụp, gương chưa lật lên nên ánh sáng không thể đi tới được cảm biến dù cửa chập có mở ra đi nữa. Ở máy DSLR nói chung, màn LCD chỉ phục vụ mục đích xem lại hình ảnh sau khi đã chụp.

Gần đây, để tăng thêm tính năng cho máy DSLR, nhiều loại máy đã tích hợp hệ thống ngắm sống qua LCD trên máy. Có một số thiết kế khác nhau để thực hiện điều này:

- Thiết kế lật gương lên: Theo thiết kế này, máy có hai chế độ ngắm chụp là ngắm chụp thông thường qua ống ngắm và ngắm chụp qua LCD. Ở chế độ ngắm chụp thông thường, gương phản chiếu được đặt ở trạng thái như máy tất cả các loại SLR truyền thống; Khi chuyển sang chế độ ngắm sống qua LCD, gương được lật lên và cửa chập được mở ra để ánh sáng đi tới cảm biến, cảm biến lúc này ở trạng thái bật nhưng cơ chế ghi lại hình ảnh tắt. Khi bấm chụp hệ thống điện tử mới ghi lại hình ảnh và lưu vào thẻ nhớ. Với chế độ thứ hai này, máy cũng gặp phải những thách thức như ở máy KTS du lịch thông thường.

- Thiết kế có cảm biến thứ hai: Để giảm cường độ hoạt động của cảm biến chính và dựa vào thực tế là hình ảnh hiển thị ngắm sống trên màn LCD không cần chất lượng cao như đối với cảm biến ghi hình ảnh chính, người ta có thể bố trí một cảm biến phụ, kích thức rất nhỏ, ăn theo hệ thống gương phức hợp ống ngắm để đảm nhiệm chức năng ngắm sống trên màn LCD. Khi chuyển sang chế độ ngắm sống trên LCD, một trong các gương của hệ thống gương phức hợp sẽ được điều chỉnh để hình ảnh phản xạ lên cảm biến này – thay vì phản chiếu tới ống ngắm. Cảm biến này được liên lạc với màn LCD để hiển thị hình ảnh ngắm chụp (xem hình vẽ.

Xử lý trên máy ảnh hình ảnh số sau khi ghi nhận (processing)

Ở máy ảnh truyền thống sử dụng phim nhựa, sau khi bấm chụp, hình ảnh được lưu vào phim và không được xử lý gì thêm cho đến khi đem in tráng trong phòng tối. Ở máy ảnh KTS, sau khi hình ảnh được ghi nhận, máy ảnh KTS còn thực hiện các quá trình xử lý số trong hệ thống điện tử – hoặc đồng thời thực hiện các xử lý này khi ghi nhận hình ảnh theo các chương trình mặc định của máy hay của người sử dụng cài đặt từ trước, trong đó có: điều chỉnh sắc màu và cường độ màu của ảnh (saturation/ hue), điều chỉnh tông màu (tone), độ tương phản (contrast), v.v… Ngoài ra, người sử dụng còn có thể can thiệp vào hình ảnh sau khi hình ảnh đã được lưu trữ vào thẻ nhớ như điều chỉnh độ sáng tối, ánh sáng, cắt cúp hình, và các xử lý khác tùy thuộc vào từng loại máy và từng hãng sản xuất khác nhau. Do vậy, khi sử dụng máy ảnh KTS, đặc biệt các máy ảnh DSLR, ngoài việc điều chỉnh các thông số thông thường như khẩu độ mở, tốc độ cửa chập hay độ nhạy ISO, người sử dụng nên tìm hiểu kỹ các chức năng số hóa khác có trên máy để điều chỉnh phù hợp với nhu cầu chụp ảnh của mình.

Một số khái niệm và tính năng số hóa của máy ảnh KTS không có trên máy ảnh thông thường

- Hệ số cảm biến cúp nhỏ (crop factor): Cảm biến thay thế bản phim trên nhiều loại máy KTS DSLR có kích thước nhỏ hơn so với bản phim truyền thống 35mm. Điều này ảnh hưởng tới góc chụp, tính năng của ống kính và các hiệu ứng khác của ảnh như xóa phông tạo bokeh, hiệu ứng tối mép ảnh (vignetting) hay các hiệu ứng khác.

- Độ phân giải (resolution): Là khả năng ghi lại chi tiết hình ảnh; có ảnh hưởng tới độ mịn của chi tiết ảnh, kích cỡ tệp tin ảnh (image file size), v.v…

- Cân bằng trắng (white balance): Khác với bản phim thông thường đã được chế tạo bằng các hóa chất theo tính toán từ trước của nhà sản xuất để nhận biết đầy đủ các màu sắc và ánh sáng của hình ảnh, cảm biến của máy KTS cần được “cân bằng trắng” phù hợp để máy nhận biết các loại màu sắc sao cho trung thực với thực tế, cũng như tạo những hiệu ứng màu sắc tùy theo sáng tạo của từng người sử dụng.

- Bù sáng (exposure compensation): Tăng hay giảm giá trị phơi sáng tự động theo mặc định của người sử dụng.

- Chụp gói ảnh (bracketing): Chụp một lúc 2 hoặc 3 kiểu ảnh với các giá trị phơi sáng tăng hay giảm cho từng kiểu theo mặc định của người sử dụng để bảo đảm có được ảnh đủ sáng hay phục vụ các mục đích nghệ thuật khác.

- Chụp chồng ảnh: Khả năng chụp cùng lúc nhiều hình ảnh và ghép lại với nhau tự động trên máy tạo một ảnh duy nhất với hiệu ứng chung.

- Bù sáng đèn ảnh (flash compensation): Khả năng tăng giảm cường độ của đèn flash theo mặc định của người sử dụng.

 

Do you Clean your Own Sensor?

Posted on July 22, 2011 at 9:09 AM

Do you Clean your Own Sensor? by Helen Bradley

clean_your_camera_sensor_opener.jpg

Every digital camera user will have confronted or will confront one day the issue of sensor dust. Every time you change the lens on your SLR there is a chance that dust will enter your camera. Some of this dust finds its way to the camera’s sensor with the result that you see unwanted and distracting spots on your images.

Built-in dust removal

Most cameras have some sort of dust removal feature built in. For example, my Pentax K7 has one that applies (according to its manual) “ultrasonic vibrations to the filter on the front surface of the CMOS sensor for approximately one second”. Sometimes this is all it takes to remove the dust. Just as often, however, the dust remains stuck fast.

This isn’t unusual because there are different ways dust can get to the sensor area and not all of it is ‘loose’ in the sense that it can be shaken off. Some particles can actually become stuck to the sensor.

Also, just to be clear, when I am talking about dust on the sensor, it isn’t really on the sensor itself but rather on a thin glass plate that is on top of the sensor. It’s just easier to call it sensor dust and to talk about cleaning the sensor than talk about cleaning the glass filter on top of the sensor.

When built-in methods fail

If your camera’s on board dust removal feature fails, the recommended solution is to send your camera to a service center that is authorized by your camera manufacturer and to have them clean it.

Because this is a service, you’ll be charged appropriately for it. You’ll also be without your camera for the length of time it takes to get it cleaned. Inspite of these issues, for most camera owners this is the safest and best solution.

Another option is to utilize the cleaning services provided by your local camera store. However, this is not without its risks – if the service technician isn’t authorized by the camera manufacturer to clean the camera then the cleaning could void your warranty -even if the cleaning doesn’t cause damage to the camera.

However, for a lot of photographers these options are just plain expensive and inconvenient.

For me, the issue is just that – cost and convenience. To get my camera cleaned at the local camera store costs $75 a time and it involves a one week turnaround – the service technician picks up and delivers to the store only on Tuesdays. In addition I have two one-hour round trips to drive to the camera store to drop it off and pick it up and I have to strip everything off the camera including the camera strap before it goes out and then put it all back together when it is done. All of this I was content to do until Mike from my local camera store suggested an alternative – cleaning the sensor myself.

Not for the faint of heart

On Mike’s recommendation, I bought a sensor cleaning kit which included a vacuum, wipes and cleaning solution as well as a magnifying light all packaged in a padded toolkit. The cost of the kit was a little more than one cleaning so on my second cleaning I stood to be ahead on cost.

clean_your_own_camera_kit.jpg

Kiss your warranty goodbye

I’m not recommending self-cleaning to anyone. It is a decision each camera owner needs to make themselves. You need to do as I did and ask yourself if you are prepared to shoulder the cost if you damage your camera and void your warranty? If not, then pay your money and leave it to the professionals.

I accepted I would be up for the cost of a new camera body if I damaged it because that’s about what it would cost to fix the damage I would do if the cleaning went wrong. I also acknowledged that I have probably voided my camera warranty by cleaning the camera myself even if it isn’t damaged by the cleaning. However, for me it made sense to see if I could save some time and effort by doing my own cleaning.

Scouts’ motto: Be prepared

Here is what I suggest you do if you plan to clean your own camera:

1. Read the Manual

However you behave and whatever you do in any other aspect of your life this is the one time you should read the manual for your camera and your cleaning kit before you get started. In fact, read it four or five times until you’re completely familiar with what you’re about to do and the risks.

I also found a good deal of useful information at the Cleaning Digital Cameras website (http://www.cleaningdigitalcameras.com).

In short the better informed you are the more likely you are not to fail. And if it all sounds too risky and beyond your skills, then don’t do it – after all that’s why they have service centers that do it for you!

2. Power it up

If your camera has an AC connector, connect it to the AC so that you won’t run out of power in the middle of the cleaning. This is an extremely dangerous situation as lack of power will cause the camera to shut down and if it shuts down on your cleaning tool then you are almost guaranteed to damage something.

If you don’t have a mains power connector for your camera, make sure to charge a fresh set of batteries and put these in the camera before you begin.

3. Make sure you have a problem

This probably should really be step 1 – you need to make sure you have a problem before you start. If your camera is not dirty then don’t clean it.

Many cameras will have some form of dust alert system that will show you dust on the sensor. For the Pentax K7 there’s a dust alert setting that requires you to set the camera in C or AF.S shooting mode and point at an evenly lit even color subject such as a white wall or an empty word processing document on a computer screen and take a shot. The resulting image shows you if there is dust and where it is.

You will need to read your camera’s manual to see if you have a similar system and how to capture an image of the dust.

Of course, some of us will be in no doubt that our camera needs cleaning because we can see the dust on our photos. My own cleaning efforts were driven by a particularly large gob of dust stuck in the middle of the sensor which showed up on nearly every image I shot and which just wouldn’t move inspite of numerous attempts to vibrate it free.

4. Check your tools

Check your tools before you begin making sure that you have everything that you need arranged on a clean work surface in a clean environment. Because you’ll be removing the lens from the camera you don’t want to risk getting dust into it while you are cleaning it.

5. Prepare the camera

Your camera will have a sensor cleaning feature in it. You use this to raise the mirror so you can access the sensor to clean it. Check your camera’s manual for instructions as to how to access this feature and how to return the camera to its usual setting when you are done. On my camera, simply powering it off resets it – so I have to be very careful not to touch the power button while cleaning it and that’s why freshly charged batteries are critical.

6. Clean the sensor

Clean your camera following the instructions in your camera’s manual and those in your sensor cleaning kit (all the time having regard to the terms of your camera’s warranty).

Take care – this is a delicate piece of equipment and needs to be cleaned with a light and steady hand. A half cleaned sensor in a camera that still works is better than a squeaky clean sensor in a broken camera.

7. Check the results

When you have finished cleaning, check the results to make sure the dust is gone.

Now for the good news

The good news is that many people do clean their sensors successfully.

If you do it yourself and if you do it right, you will find the cost of sensor cleaning is much less than sending the camera away to be cleaned. It’s also very convenient because you don’t have to be without your camera for a period of time and it feels good to know you can deal with a dust problem yourself.

For me, it will be a task I’ll always approach with some trepidation and mindful that it’s one that needs to be done carefully and not hurriedly or under stress. It does however give me a new sense of freedom particularly when traveling. With my cleaning kit I’ll never be caught on day one of a two-week trip with a nasty gob of dust on the sensor and no way to remove it until I get home.

Over to you

So here’s where we want to hear from you. Do you clean your sensor yourself or do you send your camera away to be cleaned?

What cleaning kit do you use and would you recommend it?

What hints or tips do you have for other readers who are investigating the possibility of cleaning their own camera sensor?

Digital Photography School

 

Chụp những bức ảnh chn dung ấn tượng

Posted on July 21, 2011 at 4:49 PM

Tìm hiểu sở thích, chọn địa điểm thích hợp , bạn có thể giúp người chụp có những bức chân dung ấn tượng.

Không nhất thiết phải chụp trong studio mới có thể tạo nên những bức ảnh đẹp. Ngay cả với các khung cảnh bên ngoài, nếu lựa chọn đúng theo phong cách và sở thích của người được chụp, chân dung đời thường đôi khi lại có giá trị hơn nhiều.

Dưới đây là một số gợi ý của tạp chí nhiếp ảnh Digital Photography School.

Chuẩn bị chủ đề

Để người chụp thoải mái nhất, hãy setup ở khung cảnh mà họ cảm thấy thoải mái nhất. Ảnh: Digitalphotographyschool.

Chụp chân dung theo chủ đề có thể rất đa dạng với nhiều phong cách khác nhau. Điều cốt yếu là người chụp phải dành thời gian trò chuyện với người được chụp để tìm hiểu xem họ thích nhất điều gì. Hãy hỏi họ về các sở thích đặc biệt, địa điểm cụ thể (tại nhà, tại các không gian lớn…) hay thậm chí là các bối cảnh thời kỳ lịch sử nào họ muốn hoài cổ.

Bỏ thời gian nghiên trang phục nào sẽ thích hợp nhất cho người mình sẽ chụp.

Chụp cảnh đời thường

Máy ảnh phải luôn sẵn sàng bởi khoảnh khắc ấn tượng chỉ đến trong giây lát. Ảnh: Digitalphotographyschool.

Trong chụp ảnh chân dung, không gì thể hiện phong cách của người được chụp tốt hơn là khung cảnh mà ở đó họ cảm thấy thoái mái và tự tin nhất. Nếu được yêu cầu chụp cảnh đời thường, bạn có được sự linh động hơn trong việc tìm kiếm các không gian yêu thích. Có thể cho họ nấu nướng cùng nhau trong gian bếp, hay cùng ăn kem tại một nhà hàng quen thuộc… Những bức ảnh này mặc dù cũng được sắp xếp nhưng trông tự nhiên hơn nhiều, thể hiện được tính cách nhất định của người trong ảnh chứ không quá khô cứng như chụp studio.

Khi chụp trong những môi trường như vậy, nhớ là máy ảnh phải luôn sẵn sàng, bởi lẽ, khoảnh khắc ấn tượng nhất thường chỉ đến trong giây lát, khi người được chụp hành động một cách tự nhiên mà quên đi mất đang có chiếc máy ảnh chĩa về phía mình. Nếu đã biết địa điểm chụp, nên bỏ thời gian đến xem trước để kiểm tra ánh sáng, môi trường, khung cảnh nào, đồ vật nào sẽ được đưa vào ảnh để làm nổi bật…

Tác giả bài viết: Nguyễn Hà

Để c những bức ảnh biển đẹp mắt

Posted on July 21, 2011 at 4:25 PM

Vẻ mênh mông, bao la và đầy bí ẩn của biển luôn là không gian chụp ảnh lí tưởng đối với các "phó nháy". Biển vừa là đối tượng chụp ảnh với những nét tạo hình, bố cục lạ mắt, huyền hặc, vừa là phông nền đa dạng để các thợ ảnh thỏa sức sáng tạo. Sau đây là một số gợi ý để bạn có được những tác phẩm ảnh ở biển như ý nhất

Không gian thoáng đãng, hậu cảnh rộng, những bức ảnh chụp ở biển thường giàu sức gợi.

Chọn thời điểm thích hợp

Thời gian là yếu tố rất quan trọng khi chụp ảnh, nhất là với cảnh biển. Vào buổi sáng, bãi biển thường khá đông đúc, khi mọi người ùa nhau tranh thủ ra biển để thưởng thức bình minh, hoặc tập thể dục bắt đầu một ngày mới. Nếu muốn chụp những dải cát dài trên bờ biển, tốt hơn hết, bạn hãy tranh thủ dậy sớm hơn đôi chút để có được không gian tốt nhất để lấy ảnh.

Ngược lại, nếu bạn muốn có những tấm ảnh hoạt náo đông người, hãy chờ thêm chốc lát. Buổi sáng sớm là thời điểm lí tưởng để bạn tìm kiếm những bức ảnh giàu sức gợi tả, hòa quyện giữa thiên nhiên và con người.

Buổi trưa mặt trời đứng bóng, ánh sáng trở nên gắt hơn và tạo ra bóng râm đậm. Do đó, để có được những bức ảnh cảnh biển đẹp nhất, bạn hãy chọn thời điểm sáng sớm hoặc khi chiều tà, khi mặt trời ló dạng hoặc chuẩn bị biến mất, ánh sáng thường dễ chịu, bóng râm trải dài nhưng mờ hơn.

Tiền cảnh của ảnh biển có thể chỉ là một vỏ ốc…

Thủy triều

Bạn không thể không quan tâm tới thủy triều khi đi chụp cảnh biển. Chỉ khi nào thủy triều thấp, bạn mới có thể chụp được những mỏm đá gợi hình nhấp nhô phía trên ngọn sóng. Lưu ý, bạn nên tranh thủ chụp ngay khi thủy triều xuống, bãi biển sạch sẽ chưa có dấu chân và vẫn còn những lâu đài cát. Bạn hãy nắm rõ bảng thời gian thủy triều lên xuống bằng cách theo dõi thông tin ở vùng đến chụp. Thậm chí trên iPhone còn có một phần mềm riêng hỗ trợ việc này. Mặc dù điều kiện thủy triều không hẳn đã quá quan trọng khi bạn muốn chụp các cảnh khác của biển, đây vẫn là một yếu tố đáng để xem xét, nhất là trong việc sắp xếp bối cảnh.

Camera và ống kính

Bất kì loại máy ảnh nào cũng có thể mang đến những tác phẩm ảnh số có giá trị, trong trường hợp chụp cảnh biển cũng vậy. Tuy nhiên, loại máy chuyên nghiệp DSLR hoặc CSC tỏ ra có ưu thế vượt trội, không chỉ ở chỉ số cảm biến lớn hơn.

Bạn nên sử dụng loại ống kính góc rộng với độ dài tiêu cự khoảng 24, 28 hoặc 25 mm (trên loại camera định dạng APS-C lần lượt là 16mm, 18mm và 23mm.). Loại ống kính dài (khoảng 70-300mm) cũng có thể là một sự lựa chọn không tồi để chụp những cảnh xa, nhất là bạn có ý định chụp những cặp đôi tay trong tay, lững thững đi dạo bên bờ biển khi mặt trời lặn.

Sử dụng bộ lọc cân bằng cường độ ND khi cần thiết để có được bức ảnh đẹp hơn theo ý muốn.

Phơi sáng

Mang kính râm là giải pháp không tồi khi đi chụp ảnh bên bờ biển.

Ánh sáng chói của biển thường có thể khiến máy ảnh phơi sáng thấp. Điều đó có nghĩa, bạn sẽ phải tùy chỉnh mức độ phơi sáng cho phù hợp. Hãy quan sát biểu đồ histogram của ảnh và nếu cần, tăng độ phơi sáng sao cho cân bằng. Khi cảnh chụp có bầu trời, bãi cát và sóng biển, bạn có thể để mức phơi sáng các đối tượng này tương đương. Tuy nhiên, bạn nên chủ động điều chỉnh và tiến hành thử nghiệm để có được kết quả tốt nhất.

Nếu chụp cảnh dọc bờ biển, với tiền cảnh gồm một vài mỏm đá hoặc vạt cây cối nho nhỏ, bạn nên sử dụng bộ lọc cường độ trung bình ND grad.

Thông thường, chúng ta vẫn sử dụng độ sâu trường ảnh mức lớn khi chụp ảnh quang cảnh. Tuy nhiên, khi chụp quang cảnh biển, có thể bạn không cần quá quan tâm tới điều này, nhất là khi biển đông người. Lưu ý rằng, ảnh khi in ra có thể chất lượng sẽ khác so với khi khi hiển thị trên màn hình LCD của máy, do đó, bạn nên tiến hành chụp cảnh với nhiều độ mở khác nhau để có được kết quả tốt nhất.

Tốc độ cửa trập

Phơi sáng dài, trên một phút có thể sẽ cho kết quả như ý khi chụp cảnh biển. Các đối tượng chuyển động của cảnh như sóng, mây sẽ bị làm mờ đôi chút.

Khi thiết lập mức phơi sáng dài vừa đủ để các đối tượng chuyển động có được nét mượt mà cần thiết, bạn phải sử dụng tới bộ lọc cân bằng cường độ ND để giảm bớt lượng ánh sáng đi vào máy ảnh. Bạn có thể chọn bộ lọc cân bằng cường độ ND với nhiều tùy chọn giá trị phơi sáng khác nhau: 1,2 hoặc 3EV (Exposure Value), cho phép người dùng phơi sáng ở mức gấp đôi, bốn hoặc tám lần. Một số loại kính ND còn cho phép người dùng giảm bớt 9 hoặc 10EV như NDx400 của Hoya hay Big Stopper của Lee Filters.

Chọn kiểu ảnh nước biển mờ không hẳn đã là lựa chọn của mọi người. Nếu bạn muốn chọn kiểu ảnh trạng thái “đóng băng” các đối tượng chuyển động của biển, hãy chọn mức phơi sáng ngắn, ở mức 1/125 giây là đủ.

Khi chọn mức độ phơi sáng và kiểu ảnh nước biển mờ (blur) hoặc đứng yên (freeze), hãy sử dụng tốc độ cửa trập phù hợp để ghi được nét đẹp của cảnh tại thời điểm đó.

Lựa chọn format ảnh phù hợp, tùy vào đối tượng. Thêm một chút may mắn và khiếu thẩm mỹ, bạn sẽ có được những tác phẩm ưng ý.

Bố cục

Không gian thoáng đãng, rộng lớn của bờ biển thường gây ấn tượng mạnh về cảm giác và thẩm mỹ cho người thưởng ngoạn. Tuy nhiên, mắt của chúng ta thường chú ý vào một vài chi tiết nào đó trong cảnh, hoặc chú ý ngắm bầu trời mà thường ít quan tâm tới những dải cát trống phía trước. Tuy nhiên, khi ngắm các bức ảnh chụp cảnh biển, điều này hoàn toàn khác, các đối tượng ở tiền cảnh có xu hướng trở nên nổi bật hơn.

Bạn nên chú ý tới tiền cảnh, chọn cảnh có những dấu chân hun hút, một vài mỏm, vách đá, chùm hoa dại, vỏ ốc… là những lựa chọn không tồi. Có một cách khác là bỏ qua tiền cảnh, hãy chọn những bố cục cảnh rộng, đối tượng ảnh phong phú với nhiều chi tiết thú vị.

Không có bất cứ quy tắc nào không có ngoại trừ, chụp ảnh cũng vậy. Chụp cảnh biển, bạn có thể chọn cảnh ngang, dọc hoặc vuông… tất cả đều có thể tạo nên những tác phẩm đáng giá. Tuy nhiên, nếu bạn chụp cảnh biển dọc theo vách núi, format ảnh thẳng đứng có vẻ hợp lý hơn. Dẫu vậy, với máy hỗ trợ nhiều format ảnh, bạn hãy thử với nhiều tùy chọn khác nhau.

Thiết bị hỗ trợ

Khi chụp ảnh ở bãi biển, bạn nên sử dụng giá đỡ để có được sự hỗ trợ tốt hơn từ thiết bị phụ kiện. Sử dụng giá đỡ sẽ trở nên đặc biệt hiệu quả khi bạn chụp ảnh lúc bình minh hoặc hoàng hôn với độ mở hẹp, ánh sáng thấp. Giá đỡ cũng trở nên đắc dụng khi bạn chụp với mức phơi sáng dài để làm mờ các đối tượng chuyển động của cảnh biển. Nhớ vệ sinh giá đỡ để tránh nước muối làm ảnh hưởng tới thiết bị.

Tác giả bài viết: Nhật Vương

Tốc độ ống knh v độ mở

Posted on July 20, 2011 at 3:54 PM

Khi gọi một ống kính là "nhanh" hay "chậm", giới nhiếp ảnh thực ra muốn nói tới ống có độ mở lớn hay nhỏ.

Nói đến ống kính

Nói đến ống kính "nhanh" ý là ánh sáng sẽ vào cảm biến được nhiều hơn và ống kính chậm sẽ cho ít ánh sáng vào hơn. Ảnh: Photographybay.

Tốc độ ống kính (lens speed) không nhằm nói đến tốc độ lấy nét dù cùng đề cập đến tốc độ. Thực tế, "tốc độ ống kính" muốn nói tới lượng ánh sáng vào cảm biến thông qua ống kính. Hãy tưởng tượng một đường hầm xuyên núi to (có nhiều làn xe chạy được) và đường hầm nhỏ. Trong cùng một thời gian, lượng xe đi qua đường hầm to sẽ nhiều hơn. Vì thế khi nói đến ống kính "nhanh", ý nói ánh sáng sẽ vào cảm biến được nhiều hơn và ống kính chậm sẽ cho ít ánh sáng vào hơn.

Nói về tốc độ ống kính, có nghĩa là đang bàn tới độ mở tối đa của ống. Độ mở của ống kính được xác định là đường kính của vòng tròn độ mở ở bên trong ống kính. Đường kính này được biểu thị bằng số f, ví dụ như f/2,8 hoặc f/16.

Số f càng thấp, độ mở càng rộng, ánh sáng vào cảm biến càng nhiều. Những ống kính được gọi là "nhanh" thường có độ mở khoảng từ f/1,4 tới f/2,8. Ngược lại, số f càng lớn thì độ mở càng nhỏ, ánh sáng vào càm biến càng ít. Những độ mở kiểu như f/16 hay f/22 được coi là "chậm".

Tại sao nhiều người cho rằng ống kính "nhanh" lại tốt hơn các ống kính "chậm"? Dựa vào các đặc điểm đề cập ở trên có thể thấy ngay lợi thế của ống kính "nhanh" là nhiều lựa chọn độ mở trong điều kiện ánh sáng yếu, tách được đối tượng ra khỏi cảnh nền mờ hiệu quả hơn.

Do ánh sáng có thể vào nhiều hơn khi để ở chế độ f thấp, thông thường, người chụp sẽ có được ảnh với chất lượng tốt hơn, nhất là trong các điều kiện ánh sáng không được dồi dào.

Ảnh này chụp bằng ống kính Canon 50 mm, độ mở f/1.8. Ảnh: Photographybay.

Ảnh này chụp bằng ống kính Canon 50 mm, độ mở f/1.8.

Ảnh: Photographybay.

Ví dụ, bức ảnh trên sử dụng ống kính Canon 50 mm, độ mở f/1,8 được sử dụng để lấy ánh sáng từ cửa số vào nhiều hơn và tốc độ chụp cũng được đẩy nhanh hơn, ở 1/250 giây.

Với độ mở lớn và tốc độ nhanh, người chụp sẽ giảm thiểu được nguy cơ rung máy hay nhòe hình trong cùng điều kiện ánh sáng.

Ảnh này chụp bằng ống kính 70 - 200 mm, độ mở f/2.8. Ảnh: Photographybay.

Ảnh này chụp bằng ống kính 70 - 200 mm, độ mở f/2.8. Ảnh: Photographybay.

Còn ở bức ảnh chụp em bé này, người chụp sử dụng ống 70 – 200 mm với độ mở f/2,8 khiến cho hậu cảnh trở nên mờ hẳn, đối tượng như được tách biệt bẳn ra, vì thế trông sắc nét và tập trung hơn. Nếu khép độ mở xuống f/8, bông hoa trong cảnh nền sẽ trở nên rõ hơn và người xem sẽ mất tập trung vào đối tượng chính, từ đó làm giảm đi vẻ đẹp của bức ảnh.

Tuy nhiên, trong một số trường hợp, để độ mở nhỏ cũng tạo nên hiệu ứng nhất định. Như bức ảnh dưới đây chụp quảng trường Ceasar tại Las Vegas , với độ mở f/22, có thể thấy cả các cây cọ lẫn tòa nhà phía sau đều nằm trong tầm nét, tạo một khung cảnh không kém phần ấn tượng.

Quảng trường Ceasar tại Las Vegas (Mỹ). Ảnh: Photographybay.

Quảng trường Ceasar tại Las Vegas . Ảnh: Photographybay.

Để điều chỉnh độ mở trên máy ảnh, người chụp cần tránh chuyển về các chế độ Auto hay Program bởi giá trị độ mở khi đó sẽ được máy ảnh tự động lựa chọn. Hãy chuyển về chế độ "A" hay "Av" (tùy hãng máy) trên vòng điều khiển và chọn thông số độ mở phù hợp với mục đích chụp ảnh và y tưởng khung hình. Máy ảnh sẽ tự tính toán tốc độ cửa trập cho phù hợp. Nhưng cũng nên để mắt tới tốc độ. Nếu tốc độ quá chậm sẽ làm ảnh dễ bị rung, vì thế trong trường hợp này, người chụp lại cần phải mở rộng độ mở thêm 1, 2 giá trị hoặc tăng ISO.

Ống kit đi kèm máy thường là các ống "chậm", chủ yếu để hạ giá thành sản phẩm. Dải tiêu cự và độ mở thông dụng nhất cho các ống kit là khoảng 18 – 55 mm với f/3,5 – 5,6. Sở dĩ có hai độ mở bởi lẽ ở tiêu cự góc rộng nhất (18 mm) độ mở tối đa sẽ mở được f/3,5, nhưng ở tiêu cự dài nhất (55 mm) độ mở tối đa lúc này không phải là f/3,5 nữa mà đã bị tăng lên thành f/5,6.

Ống kính một tiêu cự (prime) thường là các ống kính "nhanh" nhất bởi độ mở tối đa có thể tăng tới f/1,4, f/1,2 hay thậm chí là f/1. Tuy nhiên, ống kính có độ mở càng lớn, hay nói cách khác, càng "nhanh" sẽ có giá thành càng đắt (chẳng hạn cùng tiêu cự 50 mm của Canon, độ mở f/1,8 có giá khoảng 90 USD, f/1,2 đã lên tới 1.380 USD, f/1 là 4.000 USD). Tương tự, ống kính zoom được coi là "nhanh" nếu cả dải tiêu cự độ mở tối đa vẫn chỉ có một giá trị (như 24 – 70 f/2,8 hay 70 – 200 f/2,8), và tất nhiên các ống "nhanh" này cũng không hề rẻ.

Chính vì giá thành đắt đỏ nên đa số các hãng đều đầu tư khá nhiều công sức và công nghệ cho các ống kính "nhanh" này, biến chúng thành những ống kính đẳng cấp cao (dù không phải là tất cả). Vì thế, bên cạnh lợi thế thu được do độ mở lớn mang lại, người chụp còn được sở hữu những ống kính chất lượng hoàn hảo nhất với các thấu kính được lựa chọn kỹ càng để có thể có được những bức ảnh chất lượng cao.

Nguyễn Hà

Tm hiểu về hướng sng

Posted on July 20, 2011 at 3:37 PM

Ánh sáng trực diện không phải là nguồn sáng hoàn hảo trong hầu hết các tình huống còn ánh sáng hậu là nguồn sáng khá ấn tượng, nhưng khó sử dụng.

Dưới đây là một vài khái niệm cũng như cách dùng các hướng sáng khác nhau để thể hiện ý đồ chụp từ sách Nhiếp ảnh cho mọi người (Digital Photography Exposure For Dummies) của tác giả Jim Doty.

Ánh sáng trực diện

Ánh sáng trực diện. Ảnh

Ánh sáng trực diện. Ảnh

Nguồn ánh sáng trực diện phát sáng ở cùng phía với người chụp, ví dụ chụp với mặt trời ở sau lưng hay chụp với đèn flash.

Đặc tính của nó là:

•Phẳng.

•Không tạo tương phản cho đối tượng.

•Thể hiện màu sắc và hình dạng tốt (trừ phi là hình khối 3 chiều).

•Phù hợp với các tông màu đa dạng của đối tượng.

•Thường làm giảm các chi tiết bề mặt.

•Có thể khiến đối tượng hai chiều hóa hay bị "bẹt".

•Có thể khiến ảnh nhàm chán, trừ phi đối tượng có tông màu rất đa dạng.

Ánh sáng trực diện mặc dù không hẳn là nguồn sáng hoàn hảo trong hầu hết các tình huống, nhưng nếu điều chỉnh cường độ tốt, ánh sáng này có thể tôn da, giảm thiểu tối đa bề mặt sần của da người (lý do khi chụp ảnh chân dung luôn có đèn phả từ phía trước).

Nếu chụp ngoài trời, nên tránh chụp ảnh chân dung khi ánh mặt trời chiếu trực tiếp lên mặt. Mặc dù đây cũng là dạng ánh sáng trực diện, nhưng ánh mặt trời thường quá mạnh dễ dẫn tới cháy sáng.

Mặc dù phần lớn mọi người đều chụp ảnh với ánh sáng trực diện, nhưng nếu muốn trở thành nhiếp ảnh gia tốt, hãy học cách nắm bắt đối tượng và thể hiện chủ thể với ánh sáng hậu và ánh sáng bên nhiều hơn.

Ánh sáng bên

Ánh mặt trời hay nguồn phát sáng ở một bên chỉ làm sáng một nửa, nửa còn lại tối, nhưng sự hòa hợp giữa vùng sáng và vùng tối lại làm tăng độ tương phản của đối tượng.

Đặc tính của ánh sáng bên gồm:

•Tạo ấn tượng tốt.

•Có thể tạo bóng đổ lớn khi mặt trời xuống thấp.

•Có thể tạo không gian ba chiều cho đối tượng.

•Thể hiện chi tiết bề mặt tốt.

•Có thể ảnh hưởng đến chất lượng màu.

•Khó đo sáng hơn.

Ánh sáng bên rất được các nhiếp ảnh gia phong cảnh ưa chuộng, nhất là ánh sáng dịu khi mặt trời bắt đầu lặn.

Mặc dù một số vật khi chụp với ánh sáng bên có thể bị giảm màu sắc nhưng bù lại phần tương phản giữa vùng sáng và vùng tối sẽ làm nổi bật nó theo phong cách khác.

Ánh sáng hậu

Ánh sáng hậu phát sáng ở phía sau lưng đối tượng. Mặc dù là một nguồn sáng khá ấn tượng, nhưng nó thuộc loại khó sử dụng. Khi đã làm quen thì một bức ảnh chụp với ánh sáng hậu đúng đắn sẽ có giá trị hoàn toàn xứng đáng với công sức bỏ ra.

Dưới đây là những đặc tính của ánh sáng hậu:

•Tạo độ tương phản lớn.

•Giảm đáng kể màu sắc.

•Tập trung mạnh vào hình khối (hữu ích nếu người chụp thích hình khối hơn màu sắc).

•Có thể tạo thành viền sáng quanh đối tượng.

•Có thể tạo cách nhìn mới với cùng một đối tượng bởi hầu hết mọi người đều sử dụng ánh sáng trực diện.

•Thường dùng để tạo ảnh silhouette.

•Làm vùng tối trở nên tối hơn.

•Đo sáng khó nhất.

Ánh sáng đỉnh

Ánh sáng đỉnh được chiếu từ trên xuống, tương tự chụp ảnh giữa trưa mặt trời đứng bóng hay chụp trong nhà với đèn trần.

Đặc tính của ánh sáng đỉnh gồm:

•Làm nổi bật phần đỉnh của đối tượng.

•Làm vùng bóng bên dưới đối tượng sẫm hơn.

•Tối dần theo chiều dọc.

•Tạo vùng tối trên mặt.

•Khó đo tương phản.

Ánh sáng đỉnh nếu không đủ phủ lên đối tượng sẽ không thể hiện được đúng đặc tính của mình. Ánh sáng này không được nhiều người dùng, nhất là trong chụp chân dung, bởi nó sẽ tạo bóng dưới mắt. Nếu cần phải chụp với nguồn sáng này, tốt nhất nên kết hợp với ánh sáng bù để xóa bóng đổ do ánh sáng đỉnh tạo nên.

Nguyễn Hà

Quy tắc bố cục trong ảnh phong cảnh

Posted on July 20, 2011 at 2:27 PM

Những quy tắc sau sẽ giúp bạn tránh được những bức ảnh phong cảnh "thiếu đầu thừa đuôi" hay không có mục đích cụ thể.

Những người mới chơi hay chọn phong cảnh làm đối tượng để "bắt hình" vì thể loại này phong phú về đề tài cũng như không yêu cầu quá cao trong kỹ thuật sử dụng thiết bị. Tuy vậy, họ thường gặp nhiều khó khăn khi tìm cách thu gọn vẻ đẹp của đối tượng vào khung hình.

Dưới đây là một số quy tắc cơ bản trong bố cục ảnh phong cảnh.

1. Đường chéo của ảnh

Đường chéo tạo điểm nhấn trên ảnh là cây cầu Cánh Cổng Vàng. Ảnh: Flickr.

Đường chéo tạo điểm nhấn trên ảnh là cây cầu Cánh Cổng Vàng. Ảnh: Flickr.

Đường chéo của ảnh thực chất chỉ là một đường thằng tưởng tượng do các vật thể trong khung hình vẽ ra, chẳng hạn một hàng cây, hàng rào hay bờ sông... Bố cục theo quy tắc đường chéo có thể là một cách rất tuyệt để thu hút sự chú ý của mắt vào đối tượng chính.

Thông thường, những đường chéo xuất phát từ góc ảnh này tới góc ảnh kia chia khung hình làm nhiều phần, đồng thời làm mắt rời sự chú ý khỏi khu vực trung tâm. Đưa đối tượng chính vào một góc ảnh sẽ giúp nhấn mạnh ý tưởng một cách hợp lý và hiệu quả nhất. Bố cục đường chéo theo chiều dọc và ngang cũng là phương pháp hay được sử dụng khi chụp đối tượng có quy mô lớn như hàng cây cổ thụ hay công trình kiến trúc.

Lưu ý rằng, một loạt đường chéo chạy theo nhiều hướng khác nhau (và giao nhau) có thể tạo nên điểm nhấn cho bức ảnh. Nhưng nếu số lượng này quá lớn có thể làm tác phẩm của bạn trở nên hỗn loạn và khó hiểu.

2. Dạng hình học

Tam giác phối cảnh trên ảnh bao gồm vòm cây và một con đường nằm tại chính giữa, người và chú mèo hơi lệch về hai bên. Ảnh: Flickr.

Tam giác phối cảnh trên ảnh bao gồm vòm cây và một con đường nằm tại chính giữa, người và chú mèo hơi lệch về hai bên. Ảnh: Flickr.

Ảnh phong cảnh thường cần những điểm nhấn để tạo nên sức hấp dẫn. Tuy nhiên, các điểm này cũng phải được bố trí theo một dạng hình học nhất định để tạo nên sự cân bằng cho khung hình. Ví dụ điển hình nhất là việc tạo nên một tam giác phối cảnh giữa ba vật thể, trong đó có một vật nằm ở trung tâm và hai vật còn lại phân bố hai bên. Phương pháp bố cục theo kiểu tạo dạng hình học thường rất khó áp dụng nhưng lại tạo ra hiệu quả cao khi muốn thu hút sự chú ý của người xem vào bức ảnh.

3. Quy tắc một phần ba

Người và hoa hướng dương nằm trong khu vực điểm gia cắt của các đường ngang và dọc. Riêng chân trời nằm khá sát đường ngang một phần ba phía trên. Ảnh: 3Joirn.

Người và hoa hướng dương nằm trong khu vực điểm gia cắt của các đường ngang và dọc. Riêng chân trời nằm khá sát đường ngang một phần ba phía trên. Ảnh: 3Joirn.

Để nhấn mạnh chủ thể của ảnh, người chụp luôn có xu hướng đặt đối tượng vào trung tâm khung hình. Kiểu bố cục đơn giản này khá hiệu quả khi chụp macro hay nhiếp ảnh đời thường. Tuy nhiên, với thể loại phong cảnh và chân dung, cách này có thể gây phản cảm vì chủ thể sẽ chiếm gần như toàn bộ khung hình và không thể hiện được chiều sâu bức ảnh.

Ta có thể khắc phục hiện tượng này bằng cách sử dụng quy tắc một phần ba. Cụ thể, khuôn hình sẽ được chia làm chín phần bằng nhau bởi hai đường kẻ ngang và hai đường kẻ dọc. Đặt chủ thể vào điểm giao cắt của các đường ngang và dọc sẽ tạo nên hiệu quả nhấn mạnh tốt nhất. Đa số máy ảnh hiện nay hỗ trợ việc chụp theo quy tắc một phần ba bằng cách hiển thị các đường kẻ grid lines trên màn hình LCD hoặc kính ngắm.

4. Tạo khung ảnh

Tạo khung ảnh bằng cách chèn thêm một bộ phận nhô ra phía trên khung hình, chẳng hạn một vài tán lá. Ảnh: Trustedreviews.

Tạo khung ảnh bằng cách chèn thêm một bộ phận nhô ra phía trên khung hình, chẳng hạn một vài tán lá. Ảnh: Trustedreviews.

Tạo khung ảnh (Framing Image) là kỹ thuật chặn một phần khung cảnh chính bằng các vật thể khác nằm tại rìa ảnh. Thông thường, các vật này nằm ở tiền cảnh, tức là gần vị trí đặt máy hơn chủ thể. Khung nền thường có nhiều hình dạng và kích cỡ, cũng không nhất thiết phải bao trọn lấy toàn bộ bức ảnh. Khung nền bố trí không tốt có thể gây cảm giác lộn xộn và chật chội. Tuy nhiên, với một chút khéo léo, bạn có thể tạo nên sự khác biệt nhờ chính sự lộn xộn đó. Cách bố cục phổ biến nhất trong nhiếp ảnh phong cảnh là chèn thêm một bộ phận nhô ra phía trên cùng khung hình, chẳng hạn như một tán lá hay một nhành cây khô...

5. Quy tắc sinh ra để bị vi phạm

Nhiếp ảnh phong cảnh luôn cần những ý tưởng mới lạ. Ảnh: Desktoprating.

Nhiếp ảnh phong cảnh luôn cần những ý tưởng mới lạ. Ảnh: Desktoprating.

Những quy tắc nhiếp ảnh đóng vai trò rất quan trọng trong việc hình thành góc nhìn cho người cầm máy. Người chụp nên biết và nhớ để vận dụng chính xác trong các trường hợp khác nhau, tuy nhiên, không nên quá cứng nhắc và lạm dụng để tránh chụp phải những bức hình giống của người khác. Nếu có thể, hãy phá bỏ các quy tắc và vận dụng khả năng sáng tạo của mình để tạo ra những kiểu bố cục mới lạ.

Trần Hạ

-Studio lights

Posted on July 18, 2011 at 1:40 PM

Mô tả các thiết bị chiếu sáng trong phòng ảnh (Studio lights)

Ảnh gốc: EBay

MÔ TẢ

1. Reflecting umbrella – Dù phản quang (Còn gọi là hắt sáng)

2. Diffusing umbrella – Dù phân tán ánh sáng (Dù tán xạ)

3. Softbox – Hộp phân tán ánh sáng (Hộp tán xạ)

4. Reflector (silver and gold) – Tấm phản quang / hắt sáng hai mặt (màu bạc và vàng)

5. Adjustable light stand – Chân đèn có thể điều chỉnh

6. Remote control and cable – Bộ đièu khiển từ xa và dây cáp

7. Studio flashes (with bulbs) – Đèn phòng ảnh (có lắp bóng)

8. Barn-door – Chụp đèn ảnh

9. Color gel filters – Tấm lọc màu đục

10. Backdrop – Phông nền / tấm che

Nikon Flash: Những điều cần biết

Posted on July 18, 2011 at 8:46 AM

What you need to know about Nikon flash

Nikon Flash – đèn ảnh / đèn chớp Nikon – với công nghệ mới nhất phổ biến hiện nay là SB600, SB800 và SB900. Các đèn này đều ứng dụng công nghệ thông minh mà Nikon gọi là CLS (Creative Lighting System), tạm dịch là hệ thống đánh đèn sáng tạo. Công nghệ này của Nikon chỉ phát huy tác dụng khi sử dụng ở chế độ TTL (hay iTTL).

TTL/iTTL (Through The Lens / intelligent Through The Lens) là công nghệ đo sáng cho đèn flash của Nikon để xác định đúng cường độ sáng của chủ thể và cân bằng ánh sáng đèn flash với ánh sáng môi trường. Sở dĩ gọi là TTL/iTTL (xuyên qua ống kính) bởi hệ thống đo sáng cho đèn flash sử dụng chính cảm biến đo sáng của máy ảnh đặt trong thân máy, đo ánh sáng sau khi đã qua hệ thống thấu kính của ống kính, giúp đo sáng phù hợp với chế độ phơi sáng người chụp đặt trên máy, từ đó đo được giá trị ánh sáng chính xác và tạo ra ánh sáng đèn flash phù hợp để ảnh không bị thiếu sáng hay thừa sáng.

Đặt vị thế đánh đèn không dây CLS trên Nikon D90

Trước khi bàn tiếp về TTL/iTTL, chúng ta dạo qua các cách sử dụng căn bản của Nikon flash. Có 3 cách sử dụng chính như sau:

Cách 1. TTL gắn trên nóc máy: Gắn đèn lên nóc máy qua chân đế đèn (hotshoe), đặt đèn ở TTL/iTTL và để cho máy và đèn tự quyết định cường độ đèn. Với vị thế này, người chụp có thể vi chỉnh bổ sung bằng 2 cách khác nhau là (1) chỉnh bù trừ cường độ đèn (flash compensation) trên thân máy thông qua LCD nhỏ ở nóc máy, và (2) chỉnh bù trừ cường độ đèn ngay trên đèn bằng cách điều chỉnh nút +/- trên đèn. Tất cả quá trình điều chỉnh cường độ đèn còn lại đều được tự động hóa dựa vào giá trị phơi sáng (tốc độ của chập + khẩu độ mở + ISO) được đặt trên máy. Tuy nhiên, đối với rất nhiều người mới sử dụng đèn flash của Nikon, các quá trình tự động này dường như không đem lại hiệu quả mong muốn, ảnh chụp với đèn flash ở TTL/iTTL thường không cho kết quả ổn định, cái thừa sáng, cái thiếu sáng và hiếm khi có được cái ảnh ánh sáng đẹp. Vấn đề nằm ở chỗ nào và giải quyết như thế nào sẽ là nội dung của phần sau bài viết này .

Cách 2. TTL không dây: Đèn flash không gắn trên nóc máy mà được gắn rời và được kích nổ bằng hệ thống kích nổ không dây hồng ngoại (wireless) phát ra từ đèn cóc của máy trong hệ thống CLS. Ở cách này, người chụp phải bật đèn cóc (built-in flash) làm đèn điều khiển (Commander Mode / C), sau đó đặt chế độ của đèn cóc (TTL/ thủ công/ giá trị 0) và chế độ của đèn chính (SB600 / SB800 / SB900 với SB900 có thể sử dụng thay thế đèn cóc) bao gồm nhóm đèn (group A, B, C) và kênh liên lạc (channel 1, 2, 3) cũng như chế độ hoạt động (TTL/ thủ công/ bù trừ sáng). Một hay nhiều đèn chính muốn liên lạc được với máy qua hệ thống CLS không dây cũng sẽ phải đặt đúng nhóm và kênh với các cài đặt trên máy. Chúng ta sẽ trở lại các cài đặt này ở phần sau của bài viết.

Cách 3. Thủ công không dây: Đèn flash đặt rời và sử dụng hoàn toàn thủ công được kết nối với máy thông qua hệ thống kích nổ không dây rời – không sử dụng hệ thống CLS. Ở cách này, người chup sẽ phải sử dụng các bộ kích nổ đèn có dây hoặc không dây rời (wireless triggers). Đây là chế độ không sử dụng các quá trình tự động xác định cường độ đèn TTL/iTTL trong hệ thống CLS của Nikon. Lúc này đèn flash sẽ giảm giá trị của tự động TTL/iTTL trong hệ thống CLS và hoạt động như bất kỳ đèn chớp lớn nhỏ nào (flash gun / strobe), nhưng lại tạo điều kiện cho nhiếp ảnh gia hoàn toàn làm chủ hệ thống đánh đèn của mình.

Những điều cần biết về TTL/iTTL của Nikon flash (SB600, SB800, SB900)

- TTL/iTTL, hệ thống đánh đèn thông minh CLS của Nikon sẽ sử dụng thông tin đo sáng thu được trên cảm biến đo sáng đặt trên thân máy Nikon (thân tương thích CLS) để xác định cường độ sáng của đèn – cũng như độ mở (zoom) của đầu đèn (zoom head) – để ảnh có ánh sáng đẹp. Các thông tin hệ thống CLS sử dụng trong quá trình tính toán này bao gồm: ánh sáng khung hình, khoảng cách từ máy tới chủ thể (cả chính và hậu cảnh) và tiêu cự hiện thời ống kính.

1. Độ mở đầu đèn (zoom head): Các đèn Nikon SB600, SB800, SB900 có thể đặt ở 2 chế độ đối với zoom đầu đèn là:

(a) Tự động: Ở cách này, khi thay đổi tiêu cự của ống kính, đèn sẽ tự động thay đổi độ mở của đầu đèn cho phù hợp với tiêu cự (hoặc vị trí gần nhất với tiêu cự đang đặt). Tiêu cự ngắm (góc rộng) đầu đèn sẽ tiến về phía trước để mở rộng góc chiếu sáng; ở tiêu cự ngắn (góc hẹp), đầu đèn sẽ lùi về phía sau để khép góc chiếu sáng, tập trung ánh sáng vào chủ thể/ khuôn hình hẹp; và

(b) Thủ công: Ở cách này, người chụp sẽ tự điều chỉnh vị trí của đầu đèn để mở hoặc khép góc chiếu sáng của đèn bằng cách bấm vào nút ZOOM một hay nhiều lần tới khi có độ mở mong muốn.

Do đầu đèn (zoom head) được điều chỉnh dựa trên thông số tiêu cự ống kính có căn cứ khoảng cách từ máy tới chủ thể, khi sử dụng đèn đặt rời – không gắn trên máy – người chụp sẽ phải tự điều chỉnh thủ công độ zoom của đầu đèn mới có thể có góc chiếu sáng phù hợp nhất (vì lúc này khoảng cách từ máy tới chủ thể và từ đèn tới chủ thể sẽ khác nhau). Khi đặt đèn rời, mặc dù vẫn sử dụng TTL/iTTL, đèn sẽ không tự động điều chỉnh zoom đầu đèn với lý do trên.

Ngoài ra, để chức năng này hoạt động (khi đèn gắn trên nóc máy), phải sử dụng ống kính tương thích, có chức năng “gửi” thông tin khoảng cách tới máy mới tích hợp được thông số này vào hệ thống CLS.

2. Cường độ đèn: Để hệ thống CLS với chức năng TTL/iTTL làm việc hiệu quả, người chụp cần hiểu được hệ thống này căn cứ vào đâu để xác định cường độ đèn. Một số điểm cần chú ý như sau:

Hệ thống CLS TTL/iTTL sử dụng cảm biến đo sáng trên thân máy để đo sáng chủ thể, từ đó xác định cường độ đèn phù hợp. Tuy nhiên, hệ thống CLS không sử dụng giá trị đo sáng hoàn toàn giống như thân máy đo sáng để xác định giá trị phơi sáng (exposure value / EV). Đây là điểm khác biêt cơ bản cần lưu ý khi sử dụng đèn flash của Nikon.

Như ta đã biết, thân máy Nikon có nhiều cách đo sáng (metering), phổ biến là đo sáng toàn bộ khuôn hình và lấy giá trị trung bình hay còn gọi là ma trận (matrix), đo sáng toàn bộ khuôn hình và ưu tiên khu vực giữa khuôn hình (center-weighted), và đo sáng một điểm nhỏ theo điều chỉnh điểm đo sáng của người chụp (spot). Tuy nhiên, dù đo sáng cách nào trên thân máy, hệ thống CLS xác định cường độ đèn chỉ sử dụng duy nhất một cách là đo sáng ưu tiên khu vực giữa khuôn hình (center-weighted). Nói cách khác, cùng sử dụng một cảm biến đo sáng đặt trên thân máy nhưng có sự khác biệt về xác định phơi sáng (trên thân máy) và xác định cường độ đèn (của hệ thống CLS).

Chính vì chỉ sử dụng đo sáng theo ưu tiên giữa khuôn hình nên đối với nhiều người chụp ảnh chưa sử dụng quen đèn Nikon có CLS thường có ảnh với ánh sáng không ổn định, và luôn lo ngại khi sử dụng đèn flash. Hiệu quả ánh sáng của ảnh đặc biệt nằm ngoài mong muốn (sáng quá hoặc tối quá) thường trong các trường hợp sau:

- Hậu cảnh lớn và sáng hơn chủ thể rất nhiều

- Chủ thể nằm lệch về một bên, ví dụ khi áp dụng qui tắc 1/3 và hậu cảnh chênh sáng với chủ thể khá lớn (cả tối hoặc sáng hơn)

Do hệ thống CLS căn cứ vào ánh sáng của toàn không hình và chỉ ưu tiên khu vực ở giữa, trong cả 2 trường hợp trên, hệ thống CLS sẽ quyết định ánh sáng dựa trên thông số ở khu vực giữa ảnh là chính, và nếu chủ thể nhỏ và tối hơn hậu cảnh cũng như chủ thể lệch sang một bên, hệ thống CLS sẽ đưa ra quyết định sai lệch về chủ thể, khiến cường độ ánh sáng đèn dành cho hậu cảnh cũng bị sai lệch, thường là quá yếu (chủ thể bị tối do đèn đánh theo hậu cảnh sáng) và đôi khi là sáng quá (chủ thể bị cháy sáng do đèn đánh theo hâu cảnh tối).

Để khắc phục hiện tượng sai lệch (hay hiểu nhầm) này của hệ thống CLS, có 2 giải pháp đơn giản sau:

Giải pháp 1: Cúp hình đưa chủ thể vào giữa khuôn hình. Tuy nhiên, cách này sẽ hạn chế rất nhiều khả năng sáng tạo bố cục của cả tấm ảnh.

Giải pháp 2: Sử dụng khóa giá trị phơi sáng FV (Flash Value Lock). Cách sử dụng như sau:

- Đặt nút khóa FV: Trên các máy DSLR của Nikon luôn có một nút chức năng (Function button). Nút này không có chức năng cố định mà hoàn toàn do người sử dụng mặc định có chức năng gì. Nút này được cài đặt thông qua Menu chính trên máy, thường nằm ở phần CUSTOM SETTING MENU (có ký hiệu cái bút chì), và có thể khác nhau đôi chút ở các máy khác nhau như nằm trực tiếp dưới Menu này hoặc trong một menu phụ như Controls (điều khiển). Với nhu cầu khóa giá trị cường độ đèn FV, ta cần đặt nút chức năng này là nút khóa FV (Flash Value Lock).

- Chụp ảnh có đèn ở TTL/iTTL sử dụng nút khóa FV: Sau khi đã đặt nút chức năng là nút khóa FV, thao tác như sau khi chụp có đèn:

a. Ngắm chủ thể chính ở giữa khuôn hình và nhấn nút chức năng FV Lock (có thể phải giữ đến khi nhấn nút chụp). Khi nhấn nút FV Lock, đèn sẽ đánh nhẹ để đo ánh sáng phản xạ từ chủ thể (pre-flash).

b. Chuyển máy ngắm tạo bố cục mong muốn cho ảnh và nhấn chụp. Do giá trị đo sáng cho đèn đã được khóa bởi nút khóa FV lock, đèn sẽ nổ theo giá trị phù hợp với chủ thể. Lúc này, ánh sáng hậu cảnh sẽ hoàn toàn do giá trị phơi sáng được xác định theo chế độ đã đang đặt, và có ảnh hướng chính tới ánh sáng hậu cảnh, trong đó có yếu tố ánh sáng môi trường, còn chủ thể chủ yếu được thắp sáng bằng đèn flash với chế độ phù hợp.

3. BL (Balanced Fill Flash) của đèn flash Nikon

Khi đang sử dụng TTL/iTTL, người sử dụng có thể bật hoặc tắt lựa chọn Cân bằng ánh sáng hậu cảnh với chủ thể, Nikon gọi là Ballanced Fill Flash (BL). Bật tắt chức năng này bằng cách nhấn nút Mode trên đèn. Ghi chú: Để kích hoạt BL này, máy ảnh phải chuyển sang chế độ đo sáng ma trận (matrix) hoặc ưu tiên khu vực trung tâm (center-weighted); ở chế độ đo sáng một điểm (spot), chế độ BL không hoạt động và chữ BL sẽ không hiển thị trên màn LCD của đèn.

4. Đồng bộ đèn cao FP (Focal Plane)

Với các máy ảnh (D)SLR có màn chập quét qua lại để đóng mở cửa chập (focal plane) – ngoại trừ Nikon D40, D50, D70s là các máy “đóng mở” cửa chập điện tử, vấn đề xuất hiện khi sử dụng đèn ảnh flash ở tốc độ của chập cao. Do anh sáng đèn flash chỉ chớp lên rồi tắt trong thời gian rất rất ngắn khoảng 1/1000 giây, cấu tạo màn chập này của máy ảnh (D)SLR gây ra hiện tượng có một phần của ảnh không nhận được ánh sáng từ đèn flash.

Vì vậy khi sử dụng với đèn flash, người chụp phải giới hạn tốc độ cửa chập (shutter speed) ở tốc độ mà máy ảnh cụ thể cho phép, tốc độ tối đa có thể sử dụng với đèn flash này được gọi là tốc độ đồng bộ đèn (flash sync speed). Các máy ảnh tầm trung thường có tốc độ đồng bộ đèn là 1/200 – 1/250 giây, chỉ có các máy ảnh chuyên nghiệp hàng đầu mới có tốc độ đồng bộ đèn lên tới 1/500 giây hay thậm chí 1/1250 giây. Tốc độ đồng bộ đèn thấp (1/200 – 1/250 giây) thường gây rất nhiều phiền toái trong các trường hợp chụp ảnh ngược sáng, chụp ngoài trời khi muốn giảm ánh sáng hậu cảnh bằng cách tăng tốc độ cửa chập lên cao.

Để tạo điều kiện tăng tốc độ chụp với đèn flash cao hơn nữa – cao hơn tốc đồng bộ đèn thông thường máy ảnh cho phép, Nikon đã chết tạo chế độ chụp FP. Ở vị thế này thay vì đèn chỉ chớp một lần, đèn sẽ chớp nhiều lần liên tục để duy trì nguồn sáng, bảo đảm tất cả khuôn hình đều nhận được ánh sáng của đèn flash. Tuy nhiên, khi sử dụng cách này cần lưu ý:

- FP sử dụng được với trạng thái đèn gắn liền trên nóc máy hoặc gắn rời sử dụng chế độ kích nổ không dây hồng ngoại CLS thông qua đèn cóc đặt ở điều khiển (commander mode).

- Do đèn chớp liên tục, cường độ chớp sáng sẽ giảm đi rất nhiều, đồng thời cũng giảm khả năng đặt đèn từ xa chủ thể. Vì vậy, để bảo đảm ánh sáng, cần đặt đèn ở vị trí gần hơn. Bạn nên thử nghiệm các vị trí đặt đèn phù hợp trong tình huống chụp cụ thể.

- Do đèn chớp liên tục, pin đèn sẽ nhanh hết hơn, cần nhớ mang theo nhiều pin dự phòng.

5. Mẹo đánh đèn TTL/iTTL

Theo kinh nghiệm khi sử dụng đèn flash ở TTL/iTTL, đèn sẽ cho ánh sáng đẹp nhất khi đặt bù trừ sáng đèn (flash compensation) trong các trường hợp:

- Đèn đánh thẳng, không sử dụng tản sáng hoặc hắt sáng gắn liền đèn: Trừ khoảng 1.3 – 2.0 (-1.3 <> -2.0)

- Đèn đánh chếch, có sử dụng tản sáng – và có thể kết hợp hắt sáng nhỏ – gắn liền đèn: Trừ 0.7 đến 1.0 (-0.7 <> -1.0)

6 bước chọn ống knh cho my ảnh số DSLR

Posted on July 16, 2011 at 6:37 AM

6 bước chọn ống kính cho máy ảnh số DSLR

Nếu chọn mua thân máy ảnh KTS DSLR (Digital Single Lens Reflex / máy ảnh số ống kính đơn phản xạ) đã khó, chọn mua ống kính (lens) cho thân máy còn khó hơn thế nhiều.

Có rất nhiều loại máy ảnh số DSLR của các hãng khác nhau và các mức giá khác nhau để bạn lựa chọn phù hợp với nhu cầu và túi tiền của mình. Điều này cũng đúng khi bạn lựa chọn mua ống kính cho máy DSLR. Có đủ loại ống kính dành cho máy DSLR cả về hình thức, tính năng và đặc biệt là rất khác nhau về giá cả. Một số loại ống cao cấp được chế tạo dành cho nhiếp ảnh gia chuyên nghiệp nhưng cũng có rất nhiều loại ống phục vụ mục đích chơi ảnh của đông đảo người tiêu dùng.

Đứng trước lượng thông tin khổng lồ và vô vàn quảng cáo cái nào cũng bắt mắt, người chơi máy DSLR đôi khi cảm thấy bối rối không biết nên lựa chọn ống kính như thế nào cho có lợi.

Sau đây là 6 bước lựa chọn hữu dụng để bạn có thể đưa ra quyết định khi mua sắm ống kính cho chiếc DSLR thân yêu của bạn.

Nhưng trước khi bạn cầm tiền tiết kiệm chạy ra hàng bán ống kính gần nhất để lựa chọn mua hàng, hãy kiểm tra nhãn hiệu thân máy của bạn là gì và máy thuộc đời nào. Lý do bạn cần làm như vậy là vì các ống kính rời không phải cái nào cũng giống với cái nào và cái nào cũng lắp được cho bất cứ thân máy nào.

Một ống kính được thiết kế cho thân máy Canon sẽ không thể lắp cho thân máy của Nikon và ngược lại. Trong thời đại kỹ thuật số ngày nay, mọi thiết bị đều có thông số điện tử, mỗi ống kính đều có thiết kế nhất định để tương tích với các thân máy nhất định. Ống kính phải được kết nối với thân máy theo đúng thiết kế mới có khả năng “thông báo” với thân máy các chỉ số về ảnh sáng và khoảng cách phục vụ các chức năng tự động của máy. Tuy nhiên, các nhà sản xuất khác nhau lại sử dụng các hệ thông số và chuẩn kỹ thuật khác nhau, vì vậy, ống kính loại nào chỉ phù hợp với thân máy loại đó.

Đơn giản hơn, để một ống kính hoạt động được trên một thân máy, điều tối thiểu cần quan tâm là ống kính có ngoàm gá lắp (lens mount) tương thích hay không. Nếu không lắp vừa vào thân máy, ống kính có đắt tiền đến mấy cũng chỉ là những mảnh thủy tinh vô dụng. Ví dụ, ngoàm gá lắp của máy và ống kính Nikon khác với của Canon và khác với của Pentax. Vì thế, bạn cần nhớ chủng loại thân máy để mua ống kích phù hợp. Ngoài ra có nhiều hãng chuyên sản xuất ống kích cho các thân máy của các hãng khác như Tamron, Sigma hay Tonkina. Khi mua các loại ống này, bạn cũng phải xác định xem ngoàm gá lắp của ống kính thuộc loại nào.

6 BƯỚC LỰA CHỌN

6 bước lựa chọn này có thể thực hiện giống như phương pháp loại trừ trong bài thi trắc nghiệm. Qua sáu bước lựa chọn này, bạn dần dần loại bỏ được các loại ống kính không mong muốn để cuối cùng đưa ra quyết định sát với nhu cầu của mình:

1. Xác định tiêu cự bạn cần

Tiêu cự (focal length) quyết định tầm hoạt động xa gần và các tính năng tương ứng của một ống kính. Nếu có nhu cầu chụp trong nhà với cự ly ngắn và khuôn hình rộng như đám cưới, sinh nhật, bạn cần chọn các ống kính góc rộng (wide lens) có tiêu cự vào khoảng trên dưới 28mm. Nếu cần chụp xa, bạn sẽ cần các ống kính tete có tiêu cự từ 70mm đến 300mm và hơn nữa.

2. Xác định loại ống kính tiêu cự cố định (prime lens) hay ống kính tiêu cự thay đổi (zoom lens)

Nếu có nhu cầu chụp cơ động với các cự ly khác nhau trong cùng một chuyến đi chụp ảnh, rất có thể bạn sẽ cần một ống kính zoom có khả năng “kéo ra kéo vào” đối tượng cần chụp để tăng khả năng cơ động, tránh thay đổi ống kính mất thời gian. Nếu chỉ chụp ở những cự ly nhất định, bạn có thể cần mua các ống kính có tiêu cự cố định như 90mm hay 105mm. Ống kính cố định cho hình ảnh có độ tin cậy cao hơn còn ống zoom cho bạn khả năng cơ động hơn.

3. Xác định khẩu độ mở tối đa

Khẩu độ mở (apature) là yếu tố hết sức quan trọng trong việc kiểm soát phơi sáng (exposure) của ảnh. Khẩu độ mở lớn (chỉ số f-number nhỏ) tạo điều kiện phơi sáng tốt ở môi trường ánh sáng yếu và cho chiều sâu nhỏ (shallow depth of field) đồng thời góp phần tăng tốc độ chụp (shutter speed) khi cần thiết; khẩu độ mở hẹp (f-number lớn) phù hợp với chụp ảnh trong môi trường ánh sáng tốt như ngoài trời vào ban ngày và cho chiều sâu lớn. Tuy nhiên, ống kính có khẩu độ tối đa lớn thường rất đắt tiền. Bạn cần cân nhắc nhu cầu chụp để tránh lãng phí.

4. Chọn mua ống chính hãng hay ống của nhà sản xuất thứ 3

Ống kính chính hãng với đầy đủ tính năng mong muốn, tức là cùng hãng với hãng sản xuất thân máy, bao giờ cũng tốt hơn, nhưng giá cả cũng cao hơn nhiều so với ống của các hãng khác sản xuất đáp ứng nhu cầu của người sử dụng cho các loại thân máy nhất định (thường được gọi là “hàng for” trong thuật ngữ của dân chơi ảnh ở Việt Nam). Nếu điều kiện tài chính cho phép, bạn luôn nên mua ống chính hãng. Tuy nhiên, một giải pháp kinh tế là mua “ống for”. Nhiều ống loại này của các hãng nổi tiếng như Tamron, Sigma hay Tokina cũng có những tính năng và chất lượng ngang ngửa ống chính hãng ở những loại sản phẩm nhất định và thực sự đáng được quan tâm.

5. Xác định các tính năng bổ sung

Ống kính thường có nhiều tính năng bổ sung làm tăng chất lượng ảnh - và tất nhiên giá cả - của ống kính. Các tính năng này có thể bao gồm tính năng chống rung (VR/VC), có lớp phủ hóa chất đặc biệt (ví dụ, ống Nikon có lớp phủ N hay ED), có các lẫy khóa giới hạn tiêu cự hay chống tụt ống, có vòng khẩu độ mở hay không có, v.v… Khi mua sắm, bạn cần cân nhắc cái lợi và bất tiện của một ống kính để chọn mua phù hợp với tính chất công việc và túi tiền.

6. Đọc các bài đánh giá để chọn lựa chính xác hơn

Ống kính nào của bất kỳ hãng sản xuất nào cũng được quảng cáo với những màn quảng cáo hấp dẫn giới thiệu những tính năng ưu việt của ống kính. Tuy nhiên, thực tế đôi khi không phải lúc nào cũng tốt đẹp như trong quảng cáo. Bạn cần tìm hiểu kỹ về ống kính định mua để đỡ ân hận về sau. Cách tốt nhất là chụp thử và tự phân tích tính năng và chất lượng hình ảnh của ống kính. Tuy nhiên, khả năng này không phải lúc nào cũng thực hiện được. Một cách hiệu quả (cả về kinh tế và kỹ thuật) là đọc các bài viết đánh giá các loại ống kính này của các nhà nhiếp ảnh chuyên nghiệp hay những tay chơi hàng đầu trên thế giới để biết được đặc điểm và chất lượng thực của ống kính muốn mua.

Thuật ngữ nhiếp ảnh - Photography Glossary

Posted on July 16, 2011 at 6:27 AM

- Để vận dụng tốt nhất các khả năng của camera, phục vụ cho nhu cầu sáng tạo trong chụp ảnh, ta cần hiểu rõ các thuật ngữ được sử dụng trong các camera.

Đầu tiên là dSLR = digital Single Lens Reflex - Máy ảnh số ống kính đơn dùng gương phản chiếu.

- Ánh sáng đi vào ống kính, gặp hệ thống gương phản chiếu, hắt vào khung ngắm (View Finder) để người chụp nắm bắt khung hình sẽ được chụp.

- Khi chụp, gương sẽ lật lên để ánh sáng đi vào bộ cảm biến. Vì thế, ta thấy khung ngắm chợt tối đen trong khoảnh khắc chụp hình. Và vì thế, máy dSLR không quay được phim, vì đa số thời gian, gương phản chiếu đều che kín bộ cảm biến.

Các máy PnS thì hoạt động khác, nó không có gương hắt, và khung ngắm của nó (nếu có) là khung ngắm điện tử (Electronic View Finder - EVF), nhìn vào EVF ta thấy khác hẳn với VF của máy dSLR. Cảm biến không bị che trong toàn thời gian, nên nhiều máy PnS quay được phim. :devil:

I. Các thông số kỹ thuật của máy chụp hình

1. Sensor (bộ cảm biến ảnh)

Là một ma trận các điểm thu nhận tín hiệu ánh sáng đi qua ống kính, nó biến đổi tín hiệu tương tự (analog) của cuộc sống thực, thành các giá trị số (digital) để rồi được xử lý, lưu trữ, và tái tạo lại để chúng ta xem. Số lượng các điểm cảm biến trên một sensor thường được ghi bằng đơn vị Mega-Pixel (số triệu điểm thu nhận). Ví dụ 5.1 MP, 7.2 MB. 12.4MP.

1a. Cảm biến CCD (charge-coupled device) là loại cảm biến rất phổ biến, trước đây được coi là ưu việt nhất trong chế tạo máy ảnh số, thường được trang bị trong các máy du lịch, chuyên nghiệp, bán chuyên. Được phát minh năm 1969 tại phòng thí nghiệm 1969 AT&T Bell Labs bởi Willard Boyle and George E. Smith.

1b. Cảm biến CMOS (complementary metal oxide semiconductor) là một loại cảm biến khác. Thế hệ đầu của nó rất thua kém so với CCD về nhiều mặt, nên nó được áp dụng vào các camera giá rẻ. Tuy nhiên với sự phát triển của công nghệ, CMOS thế hệ kế tiếp đã có nhiều ưu điểm kỹ thuật, vì vậy nó đã được áp dụng cho các camera cao cấp. (hầu hết các camera bán chuyên và chuyên nghiệp của Canon đều dùng CMOS)

CCD và CMOS khác nhau cơ bản về cách truyền tín hiệu.

Mỗi tế bào CCD nhận tín hiệu ánh sáng, rồi vài hoặc nhiều tế bào CCD truyền tín hiệu đó về một node, từ đó các tín hiệu mới được số hoá (digitalized).

Ngược lại, mỗi tế bào CMOS tự nó chuyển tín hiệu từ analog sang digital, ngoài ra mỗi tế bào CMOS còn được trang bị thêm phần khuyếch đại tín hiệu, phần xử lý nhiễu (noise)...

CCD hay CMOS ưu việt hơn? Đó là một câu hỏi còn bỏ ngỏ. Tuy nhiên gần đây nhiều camera của Nikon đã chuyển sang dùng CMOS thay vì CCD.

Xin tham khảo thêm về so sánh CCD-CMOS từ các nguồn thông tin khác trên Internet.

2. Kích thước Sensor

Do nhiếp ảnh có một lịch sử lâu đời với nhiều kích cỡ film khác nhau, trong đó có lẽ phổ biến nhất là film 35mm (mỗi ô phim có kích thước 35x24mm). Sau này, khi chế tạo cảm biến máy ảnh KTS, người ta cũng căn cứ vào kích thước đó.

2a. Cảm biến đúng kích thước (full-frame)

Sensor có kích thước xấp xỉ đúng 35x24mm

2b. Cảm biến cỡ nhỏ (cropped sensor)

Sensor có kích thước nhỏ hơn full-frame, theo một tỷ lệ nào đó, ví dụ 1/1.5, 1/1.6

Lợi ích của các kích thước cảm biến là khác nhau tuỳ thuộc mục đích chế tạo máy ảnh. Về so sánh Full-Frame (FF) và cropped đã có bài trên diễn đàn, mời các bác chịu khó đọc tham khảo.

Từ đây, phát sinh vấn đề FOV (field of view) và crop factor (hệ số kích thước) hoặc còn được gọi là hệ số nhân tiêu cự - Focal Lenght Multiplier (FLM).

Một ống kính có tiêu cự 28-90mm lắp trên thân máy full-frame sẽ cho một trường nhìn đúng với tiêu cự mà nhà sản xuất ống kính nhắm tới, nhưng lắp trên một thân máy có sensor cỡ nhỏ hơn sẽ cho trường nhìn khác, nó bằng

hệ số crop x tiêu cự ống kính

VD: OK 28-90mm lắp trên máy crop 1.5x sẽ cho trường nhìn là 42-135mm

Hình minh hoạ

10 đìu v̀ ́ng kính máy ảnh

Posted on July 16, 2011 at 6:03 AM

10 điều về ống kính máy ảnh

Ống kính góc rộng có thể lấy nét đối với các vật thể ở rất gần mà vẫn lấy được nhiều hậu cảnh vào bức ảnh. Ống kính zoom thì luôn là con dao hai lưỡi.

Dưới đây là 10 tổng kết của trang ảnh Popphoto.

1. Tiêu cự trung bình chỉ là tương đối:

 Ống kính máy ảnh là một thiết bị tối quan trọng, có tác dụng hội tụ các tia sáng về trên tấm phim hoặc cảm biến ảnh, trong đo,́ người ta sử dụng khái niệm tiêu cự để chỉ khoảng cách từ tiêu điểm đến bề mặt tấm phim hoặc cảm biến ảnh. Tiêu cự ảnh hưởng đến góc nhìn tạo ra trên ảnh nên được chia thành 3 dải chính là dải tiêu cự trung bình cho góc nhìn "thực" tương đương với góc nhìn của mắt người, dải tiêu cự ngắn cho góc nhìn rộng hơn và dải tiêu cự dài cho góc nhìn hẹp hơn.

Tuy nhiên, góc nhìn trên ảnh còn bị ảnh hưởng bởi kích thước cảm biến ảnh, cảm biến càng to thì càng ghi lại được nhiều chi tiết. Vì vậy, để cho một góc nhìn tương đương nhau thì cảm biến ảnh lớn cần dùng ống kính có dải tiêu cự dài hơn, trong khi cảm biến ảnh cỡ nhỏ cần loại ngắn hơn.

Tiêu cự trung bình là khái niệm dùng để chỉ khoảng tiêu cự có khả năng tạo ra góc nhìn tự nhiên khi chụp ở cự ly chụp trung bình. Theo quy ước, các tiêu cự này thường dài hơn một chút so với độ dài đường chéo của tấm phim hay cảm biến ảnh. Đối với cảm biến ảnh full-frame, đường chéo là 43mm thì tiêu cự trung bình vào khoảng 50mm. Đối với cảm biến APS-C có đường chéo 28mm thì tiêu cự 35mm được coi là trung bình. Tương tự với cảm biến trên máy ảnh 4:3 là 25mm, còn máy ảnh du lịch thông thường là 8mm. Do đó, người cầm máy ảnh nên chụp các đối tượng, cảnh vật xung quanh bằng tiêu cự trung bình để tìm ra những góc nhìn mới lạ.

2. Chụp góc rộng để lấy cảnh xa.

Ống kính góc rộng có thể lấy nét vào các vật ở rất gần mà vẫn lấy được nhiều hậu cảnh vào bức ảnh. Ảnh: Popphoto.

Trước hết, hãy nhìn người đối diện ở cự ly cực gần. Bạn sẽ có cảm giác là góc nhìn bị méo, nhưng không hẳn mà đó là góc nhìn thật khi mắt tập trung vào đối tượng gần hơn bình thường. Mức độ phóng đại ở đây, rõ ràng là không phải do tiêu cự quyết định mà do sự tiếp cận, nghĩa là bạn có thể phóng to kích thước đối tượng với một ống kính tiêu cự trung bình nhưng có khả năng lấy nét cực gần.

Ống kính góc rộng có thể lấy nét đối với các vật thể ở rất gần mà vẫn lấy được nhiều hậu cảnh vào bức ảnh. Đặc điểm này cho phép dân chụp tự nhiên sử dụng đối tượng tiền cảnh – bụi cây, tảng đá, hoa cỏ – để đặt điểm nhấn tạo bố cục ảnh. Bên cạnh đó, ống kính siêu rộng còn có thể tạo ra cảm giác về độ sâu, gần như kiểu ảo giác 3 chiều.

Do đó, nên chụp ảnh theo chiều thẳng đứng để tăng cường cảm nhận xa gần trong bức ảnh chụp ở góc rộng. Phương pháp này có thể thu được từ tiền cảnh rất gần đến hậu cảnh phía đằng xa.

3. Khoảng cách.

Một thử nghiệm khác: sử dụng ống kính tiêu cự lớn để chụp các nhóm dối tượng ở xa như núi non, tòa nhà, cây cối… sau đó vẫn giữ nguyên vị trí máy và chụp lại chúng bằng ống kính tiêu cự trung bình. Tiếp theo, trong phần xử lý hậu kỳ crop bỏ đi các chi tiết ở xa trong ảnh chụp bằng ống kính tiêu cự trung bình. Kết quả cho thấy góc nhìn trên các ảnh này tương đương với ảnh chụp tại tiêu cự lớn.

Với các ảnh chụp từ xa, góc nhìn sẽ tập trung hơn vào các đối tượng ở xa – kiểu như tách rời khỏi các đối tượng khác – không phải do tiêu cự lớn mà vì các đối tượng đều tương đối xa từ máy ảnh. Mắt người cũng có cơ chế hoạt động tương tự nhưng có xu hướng không chú ý đến đối tượng

Ống kính tele cho phép có thể lấy cận các chi tiết mà không cần phóng to ảnh lên – cũng đồng thời làm giảm chất lượng ảnh. Ngoài ra, khoảng cách vừa phải còn cho phép chụp những bức ảnh chân dung vừa khuôn hình mà không bị phóng đại các chi tiết.

Do đó, khi chụp ảnh phong cảnh, người chụp không dựa vào mắt thường để phân biệt các đối tượng ở xa mà hãy sử dụng ống kính tele quét qua đường chân trời để tìm các bố cụ̣c hợp lý.

4. Ống kính zoom luôn chậm.

Ống kính zoom luôn là con dao hai lưỡi. Điểm mạnh là nó có thể dễ dàng thay đổi tiêu cự mà không cần thay ống kính. Nhưng cũng vì thế người ta sẽ quên mất là mình có đôi chân. Nếu chỉ đứng ở một chỗ, không đổi cách cầm máy, người chụp chỉ đơn giản phóng to thu nhỏ được chứ không thay đổi được góc nhìn. Một điểm yếu nữa của ống kính zoom là luôn "chậm" hơn ống kính tiêu cự cố định, nghĩa là cho ít ảnh sáng vào hơn. Dải tiêu cự càng dài, ống kính càng chậm. Và để đổi lại một ống kính zoom thuộc loại tương đối nhanh (f/2.8 là nhanh nhất vào thời điểm hiện nay) thì cái giá bỏ ra không phải rẻ.

Vì vậy, khi chụp ảnh với ống kính zoom tiêu cự dài, người chụp nên tiến lại gần đối tượng hơn để có thể chụp được ảnh với góc rộng hơn, đồng thời có thể thay đổi được nhiều góc nhìn.

5. Trị số khẩu độ.

Ảnh này được chụp bằng ống kính Tamron 17-50mm f/5.6. Tác giả: Themysteryman.

Trị số khẩu độ biểu thị độ mở của ống kính theo công thức đơn giản sau: chiều dài tiêu cự ống kính chia cho đường kính vòng tròn độ mở. Ví dụ, với ống kính 50mm có độ mở 25mm được ký hiệu là f/2. Khép khẩu xuống 12,5mm thì trị số này là f/4. Trị số này áp dụng trên mọi hệ máy là như nhau: f/8 ở máy du lịch cũng tương tự f/8 ở DSLR hay máy khổ rộng. Đồng thời nó giúp giải thích quan hệ về kích thước ống kính trên các hệ máy. Ống kính 8mm f/2 trên hệ máy ngắm-chụp có thể rất nhỏ, trong khi ống prime 200mm f/2 cho máy DSLR thì rất là to.

Khi chụp, hãy nghĩ trị số f-stop là những "lát cắt" trong không gian: trị số f-stop nhỏ (vd f/1.4) tương đương một lát cắt mỏng trong khi f-stop lớn (ví dụ f/16) là một lát cắt dày hơn nhiều. Đó là một cách hiểu đơn giản về DOF (depth of field – độ sâu trường ảnh rõ;).

6. Kích thước ảnh hưởng đến chiều sâu.

Độ mở của ống kính kiểm soát độ sâu trường ảnh rõ – vùng có độ nét chi tiết chấp nhận được nằm ở trước và sau đối tượng lấy nét. Với độ mở lớn (trị số f-stop nhỏ;) thì DOF sẽ nông trong khi độ mở nhỏ (f-stop lớn) sẽ cho trường ảnh rõ sâu, ghi lại rõ ràng các chi tiết cảnh.

Độ phóng đại làm giảm độ sâu trường ảnh và ngược lại nên có thể tăng hoặc giảm độ phóng đại bằng cách di chuyển đến gần hoặc xa chủ thể chụp. Sử dụng ống kính tele cho phép giới hạn DOF bằng cách tăng độ phóng đại, còn ống kính góc rộng thì tăng DOF lên. Một điều nữa là các cảm biến cỡ nhỏ trên máy ảnh ngắm-chụp cho DOF thay đổi khá rộng, trong khi DSLR cho độ sâu này ở các giá trị giới hạn hơn.

Do đó, nếu sử dụng lấy nét tay trên máy ảnh ngắm-chụp, có thể giảm DOF bằng cách lấy nét từ xa về gần đến đối tượng cần lấy nét. Ngay khi đối tượng ra khỏi vùng đủ nét thì quay ngược lại để đưa nó trở về vùng đủ nét.

7. Khẩu độ nhỏ không cho ảnh luôn nét.

Thông thường, ống kính luôn đạt độ nét cao nhất tại khẩu độ trung bình, chứ không phải nhỏ nhất. Điều này ngược với cảm nhận là khẩu nhỏ cho DOF sâu thì sẽ cho độ nét tối đa. Tuy nhiên, khi chụp tại khẩu độ nhỏ nhất sẽ có xu hướng làm giảm chất lượng ảnh, nghĩa là, khi so sánh ảnh chụp ở 2 khẩu khác nhau, ảnh chụp ở khẩu nhỏ sẽ sâu hơn, nhưng ngay tại vùng lấy nét sẽ có đôi chút kém nét hơn so với ảnh chụp ở khẩu lớn.

Vì vậy nếu muốn độ nét tối đa, nên tránh chụp ở khẩu độ nhỏ nhất. Thông thường ảnh chụp sẽ nét tối đa ở khẩu độ nhỏ hơn khẩu độ lớn nhất của ống kính từ 2 đến 3 stops, ví dụ, ở ống kính có khẩu tối đa là f/2.8 thì ảnh sẽ nét nhất khi chụp ở f/5.6 hoặc f/8.

Gợi ý, khi chụp, bạn nên sử dụng bảng SQF để kiểm tra độ mở phù hợp cho ảnh nét nhất đối với mỗi ống kính.

8. Đến gần chủ thể hơn bằng kỹ thuật macro.

Ray hỗ trợ lấy nét khi chụp macro. Ảnh: Mrm.

Có rất nhiều thiết bị có thể hỗ trợ ống kính máy ảnh lấy nét ở khoảng cách cực cận, nhưng không gì bằng một ống kính macro thiết kế riêng cho nhiệm vụ này.

Khoảng cách lấy nét tối thiểu của ống kính không phải là cách tính khả năng chụp macro (ví dụ, ống 100mm có thể lấy nét ở 10cm sẽ phóng to chủ thể lên hơn nhiều so với ống 50mm chỉ lấy nét được tối thiểu ở khoảng 8cm). Thay vào đó, ống kính macro được đánh giá dựa theo khả năng phóng đại đối tượng, tính bằng độ dài tiêu cự chia cho khoảng cách lấy nét tối thiểu của ống kính. Theo đó, ống kính 100mm có thể lấy nét tại tối thiểu 10cm tức 100mm sẽ có độ phóng đại tương đương 1x hay 1:1, tức kích thước thật của đối tượng.

Vì đó, khi lấy nét với độ phóng đại lớn, tốt hơn hết nên di chuyển máy theo chiều trục ống kính hơn là sử dụng vòng xoay lấy nét. Sử dụng thanh ray lấy nét để tăng độ chuẩn xác.

9. Không có ống kính hoàn hảo.

Méo tuyến tính trên ống kính máy ảnh. Ảnh: Pennnet.

Không có ống kính nào hoàn hảo mà chỉ có ống kính chất lượng thấp hơn ống kính khác. Trong các yếu tố đánh giá chất lượng ống kính, méo tuyến tính là dễ nhận ra và gây nhiều bực bội nhất vì nó có xu hướng bẻ cong đường thẳng theo hướng đi vào (méo lồi) hoặc ra khỏi (méo lõm) khuôn hình. Tất nhiên, ngày nay các lỗi này có thể dễ dàng loại bỏ nhờ các phần mềm chỉnh sửa ảnh.

Cũng vì khả năng định hướng lại các tia sáng nên ống kính còn có tác dụng như một thấu kính, chia ánh sáng trắng theo thành phần phổ tạo nên lỗi viền tím (chromatic aberration – CA) tạo ra viền màu và giảm độ nét, nhất là ở vùng rìa ảnh. Người chụp có thể giảm hiện tượng này bằng cách khép khẩu nhỏ hơn.

Lỗi tối góc của ảnh là hiện tượng ảnh chụp bị tối ở góc, nhất là ở độ mở lớn vì vậy có thể khắc phục bằng cách khép bớt khẩu và dùng phần mềm xử lý.

Lỗi bóng mờ khi chụp trực tiếp về nguồn sáng mạnh, gây hiện tượng mờ ảnh và tạo bóng quang phổ (hay bóng ma – ghosting) trên ảnh. Khắc phục bằng cách sử dụng loa che sáng và đôi khi bằng cách khép bớt khẩu.

Chú ý, hiện tượng méo ảnh thường gặp ở vùng rìa ảnh. Nếu ống kính gây méo ảnh thì nên thay đổi bố cục ảnh hoặc đi lùi lại để đưa các đường thẳng ra khỏi vùng rìa này.

10. Trò chơi thị giác.

Ảnh chụp bằng ống kính mắt cá. Tác giả: Phương Minh Tiến.

Nhiều ống kính được thiết kế với mục đích tạo góc nhìn khác hẳn so với cách nhìn thông thường.

Ống kính mắt cá là đại diện tiêu biểu vì nó tạo ra góc nhìn siêu rộng, giữ nguyên yếu tố méo ảnh để lấy được trường ảnh rộng hơn so với ống góc rộng thông thường. Ảnh tạo ra có thể là ảnh toàn cảnh hoặc ảnh tròn (với viền đen xung quanh).

Một số ống kính có khung để xoay nghiêng cho phép kéo mặt phẳng lấy nét để hướng vùng lấy nét vào một khu vực rất nhỏ trong khi các vùng ảnh khác sẽ bị làm mờ hết. Nếu xoay theo hướng khác thì gần như tất cả mọi thứ sẽ bị sai nét. Vì vậy khi thao tác với ống kính tilt-shift đắt tiền, người chụp sẽ phải làm thật cẩn thận hoặc nếu không quá khó tính thì có thể chơi trò may rủi.

Các hiệu ứng trên thực ra là tạo sự cường điệu trên ảnh, nhưng thực tế cũng khá là vui và mở rộng giới hạn cho người chụp theo cả nghĩa đen và nghĩa bóng.

Chú ý, ố́ng kính mắt cá là công cụ đắc lực khi chụp ngoại cảnh, nhưng nếu biết cách sử dụng trong nhà, ví dụ trong cửa hàng hoặc khoang thuyền, cũng đem lại hiệu quả rất tốt.

Theo Lê Phương

Ma Thu New England

Posted on July 12, 2011 at 12:09 PM

Mùa Thu New England

… Lá lìa cành, được con suối, dòng sông đưa về biển cả mênh mông. Còn ta, lìa quê cha, đất tổ, ta sẽ về đâu ?

"Kong Li "

(Kông Li là bút hiệu của Phạm Công Lý, tác giả đã có nhiều bài viết về nước Mỹ giá trị. Là một cựu sĩ quan VNCH, cựu tù, ông cùng gia đình đến Mỹ từ tháng 11/1994 theo diện HO, định cư tại Boston. )

Khung cảnh tại bang New England, nước Mỹ.

Mùa thu New England, USA

Sinh ra ở đồng bằng sông Cửu Long, lớn lên, đi học, đi làm, đi lính và đi tù ở miền Nam, cả đời tôi chỉ biết có 2 mùa: mùa mưa dầm và mùa nắng cháy da. Trong 4 mùa Xuân, Hạ, Thu Đông học ở trường, lũ nhỏ chúng tôi chỉ thích có mùa mưa vì được chạy tồng ngồng tắm mưa ngoài trời và mùa hạ để được nghỉ hè 3 tháng rong chơi, bắn bi, đánh đáo và phá xóm làng, còn 2 mùa kia thì chúng tôi chưa bao giờ biết mặt mủi chúng ra sao.

Lớn lên một tí, biết đọc các chuyện, tiểu thuyết phong tình của các nhà văn, nhà thơ Bắc Kỳ, tôi biết thêm là mùa Xuân vui tươi với hoa nở, chim hót véo von, mùa đông lạnh căm căm, riêng cái tình tứ, buồn da diết của mùa Thu miền Bắc được rất nhiều văn sĩ,, thi sĩ, nhạc sĩ ca tụng không tiếc lời qua những tác phẩm, truyện tình lãng mạn, nhất là những ca khúc thưong vay, khóc mướn cho những mối tình dang dở, cay đắng như mùa Thu chết, mùa Thu xa em, buồn Thu, tàn Thu, giọt mưa Thu….Qua văn học tôi cảm thấy thích mùa Thu nhất vì cái buồn không tên của nó.

Đối với trẻ con ở đây, mùa Thu là mùa đi hái táo, hái lê, bí trong vườn, xem các thú nuôi: trừu, heo, gà, vịt,ngỗng, dê trong nông trại mà nhiều trẻ em chỉ thấy trong sách , trên TV và trong … tủ lạnh, hay mặc đồ ma quỷ đi nhát thiên hạ để đòi bánh, kẹo chocolate .

Riêng với các phó nhòm chuyên nghiệp, và cả tài tử nữa, mùa Thu là mùa họ ưa thích nhất để săn ảnh. Đối với dân không biết bấm nút nào để chụp được một tấm hình ra hồn, thì mùa Thu là mùa để họ đi “dòm trộm lá” (nguyên văn từ “leaf peepers”;).

Nói chung, mùa Thu ở các xứ lạnh, từ Âu sang Á đều tuyệt vời.Các tiểu bang miền Bắc của Mỹ gần biên giới Canada có những mùa Thu đẹp như nhau, nhưng đặc biệt Thu ở miền Đông Bắc đáng được chiêm ngưỡng nhất, vì hội tụ được nhũng yếu tố khí hậu, thổ nhưỡng, nước mưa , nhiều loại cây thay lá … nên mùa Thu New England, mặc dù chỉ kéo dài trong 2,3 tuần lễ , đã thu hút hàng triệu du khách khắp thế giới, cả tận Bắc Âu, đến xem mùa Thu gió bay New England và bắt, chộp những giây phút “hoành tráng” của thiên nhiên lên phim ảnh.

Vào cuối tháng 9, ta đã cảm thấy thu chầm chậm, từng ngày, đến với vùng đất thơ mộng này. Thiên nhiên trở mình làm thời tiết bỗng lạnh dần, Thu hiện diện qua những đợt gió thổi giật từng hồi trên những cành cây, đưa tiển những lá vàng bay lả tả. Rừng cây bắt đầu khoác một lớp áo choàng rực rỡ từ đầu tháng 10 ở các bang Vermont, Maine và New Hampshire ở miền Bắc. Massachusetts, Connecticut, Rhode Island vừa tiếp nhận tín hiệu Thu nên lá trên cành chưa đổi màu nhiều: núi, đồi, thung lũng vẫn còn một màu xanh biếc vào buổi chớm Thu. Điều khá thú vị là màu của lá Thu thay đổi từng năm theo thời tiết, nhiệt độ, nước, sương mù và cả mây nữa.

Đi dòm trộm lá vào lúc cao điểm là một khoảng khắc khó quên những hình ảnh huy hoàng của thiên nhiên tặng cho con người. Rời bỏ chốn đô thị ồn ào, đông đúc, tầm nhìn bị đóng khung trong các cao ốc lớn, nhỏ, du khách bỗng thấy mình chơi vơi, lạc lõng, bé nhỏ giữa trời đất bao la, lung linh đầy màu sắc.

Đứng trên đồi cao lộng gió, không gian mát lạnh và tĩnh mịch tạo cho ta một cãm giác lâng lâng, vô cùng thoải mái, hầu như tạm quên hết mọi ưu phiền,lo âu, trên cõi đời ô trọc này. Toàn thung lững bao la dưới kia, rừng đang reo vui thay da ,đổi thịt. Từng mãng rừng thay đổi màu theo góc độ của nắng chiều chiếu dọi. Những dốc đồi thoai thoải gợn sóng màu xanh, chấm phá màu vàng của các vạt cỏ, màu xanh lục của các cây thông, màu đỏ hồng của răng núi xa xa , núp sau mặt trời sắp lăn , tạo nên một búc tranh hoành tráng, lộng lẫy. hơn hẳn những gì ta thường thấy trên các bức họa thủy mạc của Tàu hay Nhật .

Một bên là vách đá đựng đứng màu ranh rêu, bên kia là vạt rừng “cây thường xanh” (evergreens) cao vút màu lá mạ, giữa là con thác bạc ồ ạt đổ xuống một vũng sâu trong ánh nắng mờ ảo của hơi nước, ánh lên màu xanh dương trong vắt. Cảnh thật tuyệt mỹ với ba màu xanh khác nhau, trộn lẫn nhau và hài hòa nhau.

Cảnh trời đất bao la, đẹp đẽ khiến ta thấy bình dị, nhẹ nhàng và bỗng nhiên ta nghiệm ra rằng cần giãm bớt sân si để cuộc sống thêm tự tại và thong dong hơn, và cần biết rằng ” hạnh phúc không ở đâu xa mà chính là sự mãn nguyện trong từng giây phút hiện tại “.

Hàng cây đỏ rực đứùng yên bên bờ hồ mênh mông, vắng lặng, mặt hồ phủ đấy lá đủ màu, đỏ hồng, tím đài các, vàng óng ánh và cam tươi tắn, thoảng rung rinh mỗi khi có làn gió nhẹ thổi qua. Một cặp ngỗng trời trắng toát, tình tứ bơi bên nhau dưới một tàng cây vàng chói, làm khách ngẩn ngơ. Trên triền đồi xanh xanh in hình bóng một con đại bàng lẻ loi,, đầu trắng với chiếc mõ quặm, thân xám, và đôi chân vàng, đang sãi cánh lượn trên nền trời xám xịt lãng vãng sương khói, chấm phá thêm cảnh hùng vĩ của đất trời đang vào Thu

Những hàng cây trong rừng đang đua nhau đổ lá. Hàng vạn chiếc lá sặc sỡ bay trong gió, xoắn tít như những con vụ trong không khí, và lượn lờ rơi, làm du khách tưởng đến cảnh bướm bay đầy trời trên hành tinh Pandora trong bô phim giả tưởng Avatar.

Từng đoàn xe đủ loại, nhiều nhất là xe bus, đua du khách đi thưởng ngoạn cảnh Thu, qua những con đường quê ngoằn nghèo nhỏ hẹp, êm ả và thơ mộng dười tán những cành cây giao nhau ở hai bên đường. Xe chạy lào xào trên thảm lá dầy , hất tung từng cơn lá ngủ sắc lên kính xe , lên mui xe và cả lên tóc của khách nữa.

Thỉnh thoảng, một nông trại cổ kính, cạnh những nhà kho sơn toàn màu đỏ, đặc trưng của vùng này, thách thức thời gian, nằm trơ trọi trên sườn đồi xa xa hiện ra như trong một bức tranh. Làng nào cũng có một nhà thờ nho nhỏ có nóc nhọn với cây thánh giá, màu trắng toát, rất xinh xắn. Quanh nhà thờ là những hàng cây cao, che rợp bóng mát, tăng thêm vẽ trang nghiêm của nơi thờ cúng.

Xe băng qua những con suối nhỏ trên những chiếc cầu có mái che, một nét độc đáo khác của New England. Chỉ riêng bang New Hampshire, trước đây có đến 750 chiếc, được xem một trong những chiếc cầu xưa nhất nước Mỹ, xây cất từ năm 1829. Vật đổi, sao dời, hiện nay chỉ còn lối 54 chiếc, và được xếp vào di tích lịch sữ. Nước dưới cầu trong vắt, bốc hơi lạnh, chảy cuồn cuộn, mang theo hàng hàng lớp lớp lá vàng. Nhìn dòng nước trôi, người sống tha phương không khỏi chạnh lòng so sánh thân phận mình :

Lá lìa cành, được con suối, dòng sông đưa về biển cả mênh mông. Còn ta, lìa quê cha, đất tổ, ta sẽ về đâu ? Nhà thơ Vũ Hối, một bậc thầy của nghệ thuật thư pháp, nhìn lá Thu rơi, chạnh lòng lữ thứ, đã múa bút để bộc bạch niềm thương, nổi nhớ không nguôi bằng hai câu thơ :

Gom lá phong vàng Thu xứ lạ.

Kết vòng chữ S nhớ quê hương .

Xe đi vào một con đường nhỏ, chạy trên thảm lá dầy kêu loạt xoạt rất êm tai, sâu vào cánh rừng thưa để khách nghỉ ngơi tại một quán ăn. Thời gian như ngừng lại với căn nhà khá rộng ghép toàn bằng thân cây, kiểu xây cất của những người khai phá nước Mỹ thời lập quốc. Bàn và ghế cũng bằng những khúc gỗ xù xì, để rải rác cạnh một ao lớn, quanh ao là một hàng liễu rũ, soi bóng xuống mặt ao. Một đàn vịt con mới nở,vàng chóe , kêu chiêm chiếp đang bơi theo mẹ kiếm ăn, làm lay động các chiếc lá vàng, xanh đỏ như “những con thuyền bé tẻo teo” !

Không gian tĩnh mịch và yên ắng, đẹp vô tả khiến tâm hồn khách sảng khoái, im lặng tận hưởng cảnh tuyệt vời của trời, đất ,mây, nước. Thỉnh thoảng ở bìa rừng xuất hiện vài chú nai tơ, sừng vừa mới nhú, với đôi mắt to, ngây thơ, nhìn người lạ, nhởn nhở nhai lá non, khiến du khách Mỹ (Tho), Đức (Hòa), Tây (Ninh), Thái (Bình)… bỗng dưng thành thi sĩ, ngâm nho nhỏ câu thơ thời tiền chiến của Lựu Trọng Lư:

Con nai vàng ngơ ngác

Đạp trên lá vàng khô.

Kông Ly

Trích "Mùa thu lá bay New England"

Photos minh hoạ New England

Ma Thu Algonquin

Posted on July 12, 2011 at 6:26 AM

Mùa Thu Algonquin

 

Công viên Algonquin nằm giữa Vịnh Georgian và Sông Ottawa ở trung tâm Ontario, Canada. Được xây dựng từ năm 1893 với diện tích khoảng 7.653 km2. Công viên được coi như một phần biên giới giữa miền Bắc và Nam Ontario và chỉ mất ba giờ lái xe từ Toronto là tới.

Nơi đây trải dài trên 200km là rừng hoang sơ với những cây thông cổ thụ. Những dòng sông, hồ, suối len lỏi trong rừng với những dãy núi đẹp như tranh soi mình xuống dòng nước trong xanh, phẳng lặng. Với hơn 2.400 hồ và 1.200 km đường sông suối, trong đó có hồ Canoe và các sông, suối Petawawa, Nipissing, Amable du Fond, Madawaska, Tim, công viên là một bức tranh thiên nhiên tuyệt đẹp. Algonquin cung cấp một số ca-nô tốt nhất của Canada, với hàng trăm hồ và tạo thành một con sông dài 2.000 km nối liền hệ thống các tuyến đường xuồng.

Được đi xuồng và được ngắm nhìn phong cảnh rừng thu hai bên bờ thì thật là thú vị. Cá sống trong các hồ, sông và suối trong công viên cũng vô vàn chủng loại, như cá tầm, cá nhái mũi dài, cá hồi, cá vược, cá chó, cá chó đen, cá bống biển, cá trê suối, cá tuyết, cá gai…Hoạt động câu cá được cho phép trong công viên nhưng với điều kiện bạn phải có giấy phép câu cá của chính quyền địa phương.

Có hơn 1.200 địa điểm cắm trại trong công viên. Đến đây, du khách có thể tham gia hoạt động câu cá, đi xe đạp núi, cưỡi ngựa, trượt tuyết và đi bộ dài ngày. Công viên có 19 đường mòn, chiều dài từ 0,8 km đến 13 km. Mỗi đường mòn đều có hướng dẫn để giới thiệu cho khách những hệ sinh thái khác nhau hay lịch sử của công viên. Công viên cũng phát hành một bản tin dành cho du khách. “The Raven, “ được phát hành mười hai lần một năm giữa cuối tháng Tư và đầu tháng Chín.

Theo những con đường mòn phủ đầy lá rụng vào mùa thu, du khách sẽ cảm nhận những sắc màu mà thiên nhiên trao tặng. Mỗi cánh rừng già là một bức tranh, mỗi ngọn cây như một tác phẩm nghệ thuật. Sắc màu của thiên nhiên khiến du khách ngỡ ngàng, trầm trồ và tán thưởng. Từ vàng nhạt, vàng mơ, vàng chanh, hoàng yến đến đỏ tươi, đỏ rực, đỏ thẫm, đỏ tía. Cây nào cũng muốn khoe sắc đua duyên. Nào xanh, vàng, hồng, tía, tím, đỏ... thật là một bức tranh rực rỡ sắc màu.

Một cơn gió nhẹ thoảng qua làm cho rừng lá lao xao, sống động. Gặp cơn gió mạnh, lớp lớp những chiếc lá lìa cành, lả lướt rơi như muôn ngàn cánh bướm chao liệng. Tha thẩn trong rừng nhặt lá thu cũng là một thú vui được du khách ưa thích.

Công viên có hệ sinh thái với thảm động, thực vật vô cùng phong phú. Ở đây du khách có thể khám phá những khu rừng với các cây gỗ quý như linh sam, vân sam trắng, vân sam đỏ, vân sam đen, thông đỏ, thông trắng, tùng trắng, dương, sồi, sồi gai, sồi đỏ, lim, thích vằn, thích bạc, thích đỏ, thích đường, tần bì trắng, đen và đỏ và đặc biệt là cây phong.

Động vật ở đây có nhiều loài như chuột chân trắng, chuột chũi, chuột đồng, chuột đá, dơi nâu, dơi tai dài miền Bắc, dơi đầu bạc, thỏ, sóc chuột, sóc xám, sóc đỏ, sóc bay, hải ly, nhím, cáo đỏ, gấu đen châu Mỹ, gấu trúc Mỹ, chồn, chồn đuôi dài, chồn hôi, rái cá, mèo rừng, nai đuôi trắng, nai sừng tấm Bắc Mỹ và chó sói miền Đông, và còn có rùa đốm, rắn nước thường, rắn nâu, rắn sọc Mỹ, rắn xanh, rắn sữa, kỳ nhông đốm xanh, đốm vàng, đốm đỏ, cóc, ếch, ễnh ương…

Công viên cũng là nhà của các loài chim. Có hơn 230 loài chim khác nhau đã được quan sát thấy trong công viên và 89 loài được xem là phổ biến. Có thể kể một số loài như: Diệc lớn xanh, vạc Mỹ, vịt đen Mỹ, Vịt khoang cổ, vịt hoang, diều hâu, gà gô trắng, hải âu, cú, chim én, bói cá, chim nhạn, gõ kiến, chim giẻ cùi xanh và xám, quạ, hồng tước, hoạ mi đỏ, chim két, chim tước mào vàng, chim sáo đá, chim sẻ tía.

Với những tài nguyên xinh đẹp vốn có, Algonquin Park mỗi năm đón tiếp hơn hai triệu khách du lịch tới tham quan.

Mùa Thu là mùa gặt hái, thu hoạch nông phẩm, sửa soạn nhà cửa đón những lễ hội cuối năm như Lễ Tạ Ơn, Giáng Sinh và Năm Mới đồng thời cũng chuẩn bị đón một mùa Ðông băng giá sắp kéo về. Ở Bắc bán cầu mùa Thu trở về vào Tháng Chín, ngày ngắn dần, thời tiết mát dịu và chuyển sang lạnh, những cây rụng lá về mùa Ðông bắt đầu vàng úa và đỏ rực tạo nên một phong cảnh rừng Thu rất đẹp nhất là ở vùng New England (Ðông Bắc Hoa Kỳ;) chạy lên tới Canada như các tỉnh Québec và Ontario.

 

Algonquin mùa nào cũng đẹp, nhất là vào mùa thu, khi tiết trời bắt đầu se se lạnh. Dường như mùa thu đến lúc nào cũng chẳng ai hay, chỉ có thể nhận ra bởi sắc màu của lá.

Nikon Flash: Những điều cần biết

Posted on July 7, 2011 at 6:50 AM

Nikon Flash: Những điều cần biết

What you need to know about Nikon flash

Nikon Flash – đèn ảnh / đèn chớp Nikon – với công nghệ mới nhất phổ biến hiện nay là SB600, SB800 và SB900. Các đèn này đều ứng dụng công nghệ thông minh mà Nikon gọi là CLS (Creative Lighting System), tạm dịch là hệ thống đánh đèn sáng tạo. Công nghệ này của Nikon chỉ phát huy tác dụng khi sử dụng ở chế độ TTL (hay iTTL).

TTL/iTTL (Through The Lens / intelligent Through The Lens) là công nghệ đo sáng cho đèn flash của Nikon để xác định đúng cường độ sáng của chủ thể và cân bằng ánh sáng đèn flash với ánh sáng môi trường. Sở dĩ gọi là TTL/iTTL (xuyên qua ống kính) bởi hệ thống đo sáng cho đèn flash sử dụng chính cảm biến đo sáng của máy ảnh đặt trong thân máy, đo ánh sáng sau khi đã qua hệ thống thấu kính của ống kính, giúp đo sáng phù hợp với chế độ phơi sáng người chụp đặt trên máy, từ đó đo được giá trị ánh sáng chính xác và tạo ra ánh sáng đèn flash phù hợp để ảnh không bị thiếu sáng hay thừa sáng.

Đặt tư thế đánh đèn không dây CLS trên Nikon D90

Trước khi bàn tiếp về  TTL/iTTL, chúng ta dạo qua các cách sử dụng căn bản của Nikon flash. Có 3 cách sử dụng chính như sau:

Cách 1. TTL gắn trên nóc máy: Gắn đèn lên nóc máy qua chân đế đèn (hotshoe), đặt đèn ở vị trí TTL/iTTL và để cho máy và đèn tự quyết định cường độ đèn. Với cách này, người chụp có thể vi chỉnh bổ sung bằng 2 cách khác nhau là (1) chỉnh bù trừ cường độ đèn (flash compensation) trên thân máy thông qua LCD nhỏ ở nóc máy, và (2) chỉnh bù trừ cường độ đèn ngay trên đèn bằng cách điều chỉnh nút +/- trên đèn. Tất cả quá trình điều chỉnh cường độ đèn còn lại đều được tự động hóa dựa vào giá trị phơi sáng (tốc độ của chập + khẩu độ mở + ISO) được đặt trên máy. Tuy nhiên, đối với rất nhiều người mới sử dụng đèn flash của Nikon, các quá trình tự động này dường như không đem lại hiệu quả mong muốn, ảnh chụp với đèn flash ở TTL/iTTL thường không cho kết quả ổn định, cái thừa sáng, cái thiếu sáng và hiếm khi có được ảnh với ánh sáng đẹp. Vấn đề nằm ở chỗ nào và giải quyết như thế nào sẽ là nội dung của phần sau bài viết này .

Cách 2. TTL không dây: Đèn flash không gắn trên nóc máy mà được gắn rời và được kích nổ bằng hệ thống kích nổ không dây hồng ngoại (wireless) phát ra từ đèn cóc của máy trong hệ thống CLS. Ở tư thế này, người chụp phải bật đèn cóc (built-in flash) làm đèn điều khiển (Commander Mode / C), sau đó đặt chế độ của đèn cóc (TTL/ thủ công/ giá trị 0) và chế độ của đèn chính (SB600 / SB800 / SB900 với SB900 có thể sử dụng thay thế đèn cóc) bao gồm nhóm đèn (group A, B, C) và kênh liên lạc (channel 1, 2, 3) cũng như chế độ hoạt động (TTL/ thủ công/ bù trừ sáng). Một hay nhiều đèn chính muốn liên lạc được với máy qua hệ thống CLS không dây cũng sẽ phải đặt đúng nhóm và kênh với các cài đặt trên máy. Chúng ta sẽ trở lại các cài đặt này ở phần sau của bài viết.

Cách 3. Thủ công không dây: Đèn flash đặt rời và sử dụng hoàn toàn  thủ công được kết nối với máy thông qua hệ thống kích nổ không dây rời – không sử dụng hệ thống CLS. Ở chế độ này, người chup sẽ phải sử dụng các bộ kích nổ đèn có dây hoặc không dây rời (wireless triggers). Đây là chế độ không sử dụng các quá trình tự động xác định cường độ đèn TTL/iTTL trong hệ thống CLS của Nikon. Lúc này đèn flash sẽ giảm giá trị của các chế độ tự động TTL/iTTL trong hệ thống CLS và hoạt động như bất kỳ đèn chớp lớn nhỏ nào (flash gun / strobe), nhưng lại tạo điều kiện cho nhiếp ảnh gia hoàn toàn làm chủ hệ thống đánh đèn của mình.

Những điều cần biết về chế độ TTL/iTTL của Nikon flash (SB600, SB800, SB900)

Ở vị thế TTL/iTTL, hệ thống đánh đèn thông minh CLS của Nikon sẽ sử dụng thông tin đo sáng thu được trên cảm biến đo sáng đặt trên thân máy Nikon (thân tương thích CLS) để xác định cường độ sáng của đèn – cũng như độ mở (zoom) của đầu đèn (zoom head) – để ảnh có ánh sáng đẹp. Các thông tin hệ thống CLS sử dụng trong quá trình tính toán này bao gồm: ánh sáng khung hình, khoảng cách từ máy tới chủ thể (cả chính và hậu cảnh) và tiêu cự hiện thời ống kính.

1. Độ mở đầu đèn (zoom head): Các đèn Nikon SB600, SB800, SB900 có thể đặt ở 2 vị thế đối với zoom đầu đèn là:

(a) Chế độ tự động: Ở cách này, khi thay đổi tiêu cự của ống kính, đèn sẽ tự động thay đổi độ mở của đầu đèn cho phù hợp với tiêu cự (hoặc vị trí gần nhất với tiêu cự đang đặt). Tiêu cự ngắm (góc rộng) đầu đèn sẽ tiến về phía trước để mở rộng góc chiếu sáng; ở tiêu cự ngắn (góc hẹp), đầu đèn sẽ lùi về phía sau để khép góc chiếu sáng, tập trung ánh sáng vào chủ thể/ khuôn hình hẹp; và

(b) Thủ công: Ở cách này, người chụp sẽ tự điều chỉnh vị trí của đầu đèn để mở hoặc khép góc chiếu sáng của đèn bằng cách bấm vào nút ZOOM một hay nhiều lần tới khi có độ mở mong muốn.

Do đầu đèn (zoom head) được điều chỉnh dựa trên thông số tiêu cự ống kính có căn cứ khoảng cách từ máy tới chủ thể, khi sử dụng đèn ở chế độ đặt rời – không gắn trên máy – người chụp sẽ phải tự điều chỉnh thủ công độ zoom của đầu đèn mới có thể có góc chiếu sáng phù hợp nhất (vì lúc này khoảng cách từ máy tới chủ thể và từ đèn tới chủ thể sẽ khác nhau). Khi đặt đèn rời, mặc dù vẫn sử dụng chế độ TTL/iTTL, đèn sẽ không tự động điều chỉnh zoom đầu đèn với lý do trên.

Ngoài ra, để chức năng này hoạt động (khi đèn gắn trên nóc máy), phải sử dụng ống kính tương thích, có chức năng “gửi” thông tin khoảng cách tới máy mới tích hợp được thông số này vào hệ thống CLS.

2. Cường độ đèn: Để hệ thống CLS với chức năng TTL/iTTL làm việc hiệu quả, người chụp cần hiểu được hệ thống này căn cứ vào đâu để xác định cường độ đèn. Một số điểm cần chú ý như sau:

Hệ thống CLS TTL/iTTL sử dụng cảm biến đo sáng trên thân máy để đo sáng chủ thể, từ đó xác định cường độ đèn phù hợp. Tuy nhiên, hệ thống CLS không sử dụng giá trị đo sáng hoàn toàn giống như thân máy đo sáng để xác định giá trị phơi sáng (exposure value / EV). Đây là điểm khác biêt cơ bản cần lưu ý khi sử dụng đèn flash của Nikon.

Như ta đã biết, thân máy Nikon có nhiều cách đo sáng (metering), phổ biến là đo sáng toàn bộ khuôn hình và lấy giá trị trung bình hay còn gọi là ma trận (matrix), đo sáng toàn bộ khuôn hình và ưu tiên khu vực giữa khuôn hình (center-weighted), và đo sáng một điểm nhỏ theo điều chỉnh điểm đo sáng của người chụp (spot). Tuy nhiên, dù vị trí đo sáng nào trên thân máy, hệ thống CLS xác định cường độ đèn chỉ sử dụng duy nhất một chế độ là đo sáng ưu tiên khu vực giữa khuôn hình (center-weighted). Nói cách khác, cùng sử dụng một cảm biến đo sáng đặt trên thân máy nhưng có sự khác biệt về xác định phơi sáng (trên thân máy) và xác định cường độ đèn (của hệ thống CLS).

Chính vì chỉ sử dụng đo sáng theo cách ưu tiên giữa khuôn hình nên đối với nhiều người chụp ảnh chưa sử dụng quen đèn Nikon có CLS thường có ảnh với ánh sáng không ổn định, và luôn lo ngại khi sử dụng đèn flash. Hiệu quả ánh sáng của ảnh đặc biệt nằm ngoài mong muốn (sáng quá hoặc tối quá thường trong các trường hợp sau:

- Hậu cảnh lớn và sáng hơn chủ thể rất nhiều

- Chủ thể nằm lệch về một bên, ví dụ khi áp dụng qui tắc 1/3 và hậu cảnh chênh sáng với chủ thể khá lớn (cả tối hoặc sáng hơn)

Do hệ thống CLS căn cứ vào ánh sáng của toàn không hình và chỉ ưu tiên khu vực ở giữa, trong cả 2 trường hợp trên, hệ thống CLS sẽ quyết định ánh sáng dựa trên thông số ở khu vực giữa ảnh là chính, và nếu chủ thể nhỏ và tối hơn hậu cảnh cũng như chủ thể lệch sang một bên, hệ thống CLS sẽ đưa ra quyết định sai lệch về chủ thể, khiến cường độ ánh sáng đèn dành cho hậu cảnh cũng bị sai lệch, thường là quá yếu (chủ thể bị tối do đèn đánh theo hậu cảnh sáng) và đôi khi là sáng quá (chủ thể bị cháy sáng do đèn đánh theo hâu cảnh tối).

Để khắc phục hiện tượng sai lệch (hay hiểu nhầm) này của hệ thống CLS, có 2 giải pháp đơn giản sau:

Giải pháp 1: Cúp hình đưa chủ thể vào giữa khuôn hình. Tuy nhiên, cách này sẽ hạn chế rất nhiều khả năng sáng tạo bố cục của cả tấm ảnh.

Giải pháp 2: Sử dụng khóa giá trị phơi sáng FV (Flash Value Lock). Cách sử dụng như sau:

- Đặt nút khóa FV: Trên các máy DSLR của Nikon luôn có một nút chức năng (Function button). Nút này không có chức năng cố định mà hoàn toàn do người sử dụng mặc định có chức năng gì. Nút này được cài đặt thông qua Menu chính trên máy, thường nằm ở phần CUSTOM SETTING MENU (có ký hiệu cái bút chì, và có thể khác nhau đôi chút ở các máy khác nhau như nằm trực tiếp dưới Menu này hoặc trong một menu phụ như Controls (điều khiển). Với nhu cầu khóa giá trị cường độ đèn FV, ta cần đặt nút chức năng này là nút khóa FV (Flash Value Lock).

- Chụp ảnh có đèn ở vị thế TTL/iTTL sử dụng nút khóa FV: Sau khi đã đặt nút chức năng là nút khóa FV, thao tác như sau khi chụp có đèn:

a. Ngắm chủ thể chính ở giữa khuôn hình và nhấn nút chức năng FV Lock (có thể phải giữ đến khi nhấn nút chụp). Khi nhấn nút FV Lock, đèn sẽ đánh nhẹ để đo ánh sáng phản xạ từ chủ thể (pre-flash).

b. Chuyển máy ngắm tạo bố cục mong muốn cho ảnh và nhấn chụp. Do giá trị đo sáng cho đèn đã được khóa bởi nút khóa FV lock, đèn sẽ nổ theo giá trị phù hợp với chủ thể. Lúc này, ánh sáng hậu cảnh sẽ hoàn toàn do giá trị phơi sáng được xác định theo chế độ đã đang đặt, và có ảnh hướng chính tới ánh sáng hậu cảnh, trong đó có yếu tố ánh sáng môi trường, còn chủ thể chủ yếu được thắp sáng bằng đèn flash với chế độ phù hợp.

3. Vị thế BL (Balanced Fill Flash) của đèn flash Nikon

Khi đang sử dụng  TTL/iTTL, người sử dụng có thể bật hoặc tắt lựa chọn Cân bằng ánh sáng hậu cảnh với chủ thể, Nikon gọi là Ballanced Fill Flash (BL). Bật tắt chức năng này bằng cách nhấn nút Mode trên đèn. Ghi chú: Để kích hoạt ưu thế BL này, máy ảnh phải chuyển sang  đo sáng ma trận (matrix) hoặc ưu tiên khu vực trung tâm (center-weighted); ở vị thế đo sáng một điểm (spot), chế độ BL không hoạt động và chữ BL sẽ không hiển thị trên màn LCD của đèn.

4. Đồng bộ đèn cao FP (Focal Plane)

Với các máy ảnh (D)SLR có màn chập quét qua lại để đóng mở cửa chập (focal plane) – ngoại trừ Nikon D40, D50, D70s là các máy “đóng mở” cửa chập điện tử, vấn đề xuất hiện khi sử dụng đèn ảnh flash ở tốc độ của chập cao. Do ánh sáng đèn flash chỉ chớp lên rồi tắt trong thời gian rất rất ngắn khoảng 1/1000 giây, cấu tạo màn chập này của máy ảnh (D)SLR gây ra hiện tượng có một phần của ảnh không nhận được ánh sáng từ đèn flash.

Vì vậy khi sử dụng với đèn flash, người chụp phải giới hạn tốc độ cửa chập (shutter speed) ở tốc độ mà máy ảnh cụ thể cho phép, tốc độ tối đa có thể sử dụng với đèn flash này được gọi là tốc độ đồng bộ đèn (flash sync speed). Các máy ảnh tầm trung thường có tốc độ đồng bộ đèn là 1/200 – 1/250 giây, chỉ có các máy ảnh chuyên nghiệp hàng đầu mới có tốc độ đồng bộ đèn lên tới 1/500 giây hay thậm chí 1/1250 giây. Tốc độ đồng bộ đèn thấp (1/200 – 1/250 giây) thường gây rất nhiều phiền toái trong các trường hợp chụp ảnh ngược sáng, chụp ngoài trời khi muốn giảm ánh sáng hậu cảnh bằng cách tăng tốc độ cửa chập lên cao.

Để tạo điều kiện tăng tốc độ chụp với đèn flash cao hơn nữa – cao hơn tốc đồng bộ đèn thông thường máy ảnh cho phép, Nikon đã chết tạo chế độ chụp FP. Ở vị thế này, thay vì đèn chỉ chớp một lần, đèn sẽ chớp nhiều lần liên tục để duy trì nguồn sáng,  bảo đảm tất cả khuôn hình đều nhận được ánh sáng của đèn flash. Tuy nhiên, khi sử dụng cách  này cần lưu ý:

-  FP sử dụng được với trạng thái đèn gắn liền trên nóc máy hoặc gắn rời sử dụng chế độ kích nổ không dây hồng ngoại CLS thông qua đèn cóc đặt ở chế độ điều khiển (commander mode).

- Do đèn chớp liên tục, cường độ chớp sáng sẽ giảm đi rất nhiều, đồng thời cũng giảm khả năng đặt đèn từ xa chủ thể. Vì vậy, để bảo đảm ánh sáng, cần đặt đèn ở vị trí gần hơn. Bạn nên thử nghiệm các vị trí đặt đèn phù hợp trong tình huống chụp cụ thể.

- Do đèn chớp liên tục, pin đèn sẽ nhanh hết hơn, cần nhớ mang theo nhiều pin dự phòng.

5. Mẹo đánh đèn TTL/iTTL

Theo kinh nghiệm khi sử dụng đèn flash ở TTL/iTTL, đèn sẽ cho ánh sáng đẹp nhất khi đặt bù trừ sáng đèn (flash compensation) trong các trường hợp:

- Đèn đánh thẳng, không sử dụng tản sáng hoặc hắt sáng gắn liền đèn: Trừ khoảng 1.3 – 2.0 (-1.3 <> -2.0)

- Đèn đánh chếch, có sử dụng tản sáng – và có thể kết hợp hắt sáng nhỏ – gắn liền đèn: Trừ 0.7 đến 1.0 (-0.7 <> -1.0)

 


Rss_feed